Sưu tra, nghiên cứu và thực hành phổ hệ
Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026
VĂN KHẤN BÍNH NGỌ TÂN NIÊN
Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026
CHIẾC ẤN VUA GIA LONG CHO ĐÚC CHO TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT
Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026
Kính thư bà con thân Tộc trên cả nước và bà con Việt kiều ở hải ngoại.
Nhận được lời mời của hội đồng gia Tộc chi họ Dương Đình - Lạt Sơn, thành phố Phủ Lý, Hà Nam ( gốc Tổ Họ Nguyễn).
Tổ chức lễ giỗ tổ và kỷ niệm 26 năm khánh thành từ đường chi họ Dương Đình - Lạt Sơn ( 1995-2021). Hôm nay ngày 11/04/2021, tức ngày 30/02 năm Tân Sửu. Đại diện hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc, và ban quản lý di tích lịch sử văn hoá quốc gia “ Nhà Thờ và Mộ Ngài Nguyễn Bặc” tại thôn Vĩnh Ninh, xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình, về dự.
Trong không khí ấm tình dòng Tộc, cùng chung cội nguồn, anh em tay bắt, mặt mừng. Dẫu cho vật đổi sao dời, biến cố thăng trầm của lịch sử, dẫu có phải mai danh ẩn tích, sang tên, đổi họ. Nhưng bằng mọi các các cụ vẫn ghi chép gia phả, truyền dạy, giáo huấn cho con cháu các thế hệ tìm về nguồn cội, gốc rễ.
Xin được gửi đến toàn thể bà con thân tộc Chúc Văn tế Tổ của chi Họ Dương Đình - Lạt Sơn , Phủ Lý, Hà Nam, và một số hình ảnh của buổi lễ. VĂN TẾ - GIỖ TỔ
Ngày 28 tháng 2 năm - Tân Sửu
Việt Nam -Quốc
Hà Nam -Tỉnh
Phủ Lý - Thành phố
Lê Hồng Phong - Phường
Lạt Sơn cõi linh thiêng bản địa
Trống...chiêng
Nơi đây có...
Núi Hoàng Liên 99 ngọn lô nhô
Dòng sông Ngân ngàn thu sóng vỗ
Một vùng Tổ đã khởi sinh
Vạn thuở cháu con nối nghiệp
Nhà nhà sung túc - lớp lớp dựng xây
Nhờ công ơn bao đời Tổ Tiên tạo dựng.
Tùng...tùng....chiêng
Kính lạy Anh linh Đức Tổ Nguyễn An Tính !
Kính lạy các Liệt vị Tiên Linh !
Chúng con là hậu duệ của Người xin kính cáo :
Tùng.... chiêng
Xét rằng :
Có trời đất sinh ra vạn vật
Con người ta từ vạn vật sinh ra đều có Tổ có Tông.
Giọt nước kia triệu khối cũng có nguồn ,có ngọn
Muôn lá,ngàn cành đều từ gốc rễ sinh ra.
Nghìn suối,trăm sông cũng khởi từ một nguồn
Chúng ta sinh ra đều cùng chung một Tổ.
Ngày hôm nay 28 tháng 2 nhân ngày Húy nhật
Già trẻ gái trai,con cháu nội ngoại xa gần từ khắp mọi miễn đã tề tựu về đây với tất cả tấm lòng thành ,nhờ khói hương kính dâng lên Tiên Tổ !
Tùng ...tùng ,chiêng...chiêng../..tùng....chiêng
Nhớ khi xưa:
Một thời loạn lạc Trịnh Nguyễn phân tranh. Trịnh Kiểm ,Trịnh Tùng, Trịnh Sâm luôn tìm cách diệt cho hết cháu con dòng họ Nguyễn.
Khắp mọi nơi cơ cực lầm than.
Kể lưu Đông Hải, người chốn Tây Lâm
Tổ đã ôm một mối bất bình,
Mong mưu tính một phen sống mái.
Vì nước sông pha,vì nhà gây dựng.
Tùng...chiêng...
Nhưng than ôi!
Chí chẳng thành,công chẳng toại.
Thôi thì đành yên phận- Cho qua buổi loạn ly..
Chẳng vẹn đường " Trung" thì giành lấy "Hiếu "
Tránh mặt Voi để bảo vệ Giống nòi.
Tùng ...tùng.
Tổ cùng Cha từ Thanh Hóa- Gia Miêu
Vượt qua bao núi đèo treo neo hiểm trở.
Tổ cùng Cha tìm ra nơi ở
Đã dừng chân tại đất Do Nha.
Tổ cùng Cha gây dựng nên nếp nhà,
Cuốc bẫm ,cày sâu tạo nên cơ nghiệp...
Trống
Là con cả trong nhà-Tổ quyết tâm bước tiếp
Quyết tìm ra đất mới để mưu sinh.
Với tầm nhìn xa ,trông rộng ,anh minh
Tổ đã chọn Lạt Sơn làm nơi khởi nghiệp.
Nơi đây có núi ,sông trùng điệp,
Nơi khởi nguồn sự nghiệp là đây.
Chẳng quản chi khó nhọc đêm ngày
Đất sú vẹt nay trở nên màu mỡ.
Đất sỏi khô cằn đã cho sắn ,cho ngô.
Vận khó chuyển thành Hưng
Nền móng vững cơ ngơi to lớn
Gây dựng Gia Thanh ,
Cơ đen đổi ra Vận tốt
Bĩ cực biến Thái Lai
Dạy rắn con cháu:
Không được quên dù ở nơi đâu
Luôn phải biết nhớ về Nguồn Cội
Chữ Nghĩa Nhân phải đội lên đầu
Nhớ lấy câu "Bí phải thương Bầu -
" Một con ngựa đau - cả tàu bỏ cỏ"
Mang trong mình một dòng máu đỏ
Mỗi bước đường" Chị ng̃a - Em nâng "
Cây có gốc phải tìm về Nguồn Cội
Thủy Tổ nhà mình là Nguyễn Bặc
Định Quốc Công.
Tùng...tùng Chiêng...chiêng / tg ...ch..
Thấm thoát thoi đưa đã gần 300 năm
Kể từ ngày Tổ dựng xây cơ nghiệp
Cuộc đời này đã trải qua bao thăng trầm ,biến cố. Lúc thịnh ,lúc suy...
Loạn lạc, chiến tranh làm cho cháu con phải tìm nơi ly tán. Kẻ Bắc ,người Nam xa cách tha hương.
Nên hương khói đã có phần nguội lạnh...
Tg ...ch...
Nhưng chúng con vẫn thao thức những đêm trường
Vẫn đau đáu một nỗi niềm muốn tìm về Nguồn Cội.
Tg..ch...
Hạnh Phúc trào dâng,niềm vui đã tới
Năm 1995 đã tìm thấy Cội Nguồn.
Con cháu "Dương Đình" đã tìm ra " Gốc Nguyễn"
Cả Họ̣ ta cùng nhau phát triển
Vui chung tay xây dựng Từ Đường
Kể từ đây " Gốc Nguyễn - Cành Dương"
Hứng gió Nam Phong để xây Đàn Hạnh Phúc.
Tg... tg ....ch...ch/ tg ...ch...!
Hôm nay đây:
Dẫu chân trời ,góc bể,
Dù học hành,dù công việc mưu sinh,
Phiêu ḅat trăm nơi.
Lá bốn phương vẫn rụng về Nguồn Cội
Ngày Giỗ Tổ vẫn cúi đầu hương khói
Vẫn hướng về Đất Tổ , Quê Cha.
Nhớ công ơn xây dựng cơ đồ
Cho Dòng Tộc ngày càng vững trãi.
Tg . Tg . Ch..ch..tg...ch..
Cùng xuân Tân Sửu
Hai Tám tháng Hai
Nhớ ngày Giỗ Tổ
Biện lễ dâng thành
Dâng lên Đức Tổ
Hương hoa,kim ngân, / Trống
Rượi thơm,nước sạch,/ Trống
Hoa trái ngọt lành , / Trống
Cơm canh / Trống
Kính ...lễ !
Tg ...tg ..ch
Chúng con :Cúi đầu xin Đức Tổ độ trì
Cho con cháu đời đời mang phúc ấm !
Tg...ch
Chúng con nguyện thề trước Đức Tổ Anh linh:
Luôn chăm chỉ làm ăn,chuyên cần học tập,
Biết thương yêu,che trở cho nhau
Để chữ Hiếu ,chữ Đức lên đầu
Quyết không để cho cháu con sau này:
Lấy thau làm vàng,
Lấy sỏi làm ngọc.
Mà luôn luôn nhớ về Nguồn Cội
Tất cả chúng ta từ gốc Nguyễn sinh ra.
Ta cùng nhau viết tiếp bản hùng ca,
Vun đắp cho Gốc Nguyễn mãi vững bền
Để Cành Dương đời đời xanh tốt.
Tg...tg... ch...ch.../ Tg. Ch..
Thắp nến hương thơm
Khấu đầu tế lễ
Trước anh linh Đức Tổ
Đồng tâm Cẩn cáo !!!
Trống.....chiêng...liên hồi
Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026
LẠC HOÁ QUẬN CÔNG MIÊN VŨ
.:’:. 錫之冊印
TÍCH CHI SÁCH ẤN
樂化郡公綿宇
LẠC HOÁ QUẬN CÔNG MIÊN VŨ
(Tờ 1. Dòng 1) 維明命貳拾壹年
Duy Minh Mạng nhị thập nhất niên, tuế
(Dòng 2) 歲次庚子正月 壬辰朔越參日甲午
thứ Canh Tý chánh nguyệt, Nhâm Thìn sóc việt tam nhật Giáp Ngọ.
(Dòng 3) 承天興運
Thừa thiên hưng vận
(Tờ 2. Dòng 1) 皇帝若曰 朕惟 周有庶
hoàng đế nhược viết, trẫm duy: Chu hữu thứ
(Dòng 2) 邦之建 藩屏是資 漢
bang chi kiến, phiên bình thị tư; Hán
(Dòng 3) 有同姓之封 泰磐增
hữu đồng tính chi phong, thái bàn tăng
(Dòng 4) 壯朕厪念建親之義
tráng. Trẫm: Cận niệm kiến thân chi nghĩa;
(Dòng 5) 思弘裕後之規咨爾
Tư hoằng dụ hậu chi quy. Tư nhĩ:
(Tờ 3. Dòng 1) 皇十五子綿宇 少稟
Hoàng thập ngũ tử Miên Vũ. Thiếu bẩm
(Dòng 2) 純良 夙稱敦敏 禮詩
thuần lương, túc xưng đôn mẫn. Lễ thi
(Dòng 3) 庭誨德日勵乎進修
đình hối, đức nhật lệ hồ tiến tu;
(Dòng 4) 規矩義方 誼恪敦夫
Quy củ nghĩa phương, nghị khác đôn phù
(Dòng 5) 友愛 服茲嚴訓 嘉乃
hữu ái. Phục tư nghiêm huấn, gia nãi
(Tờ 4. Dòng 1) 有成 惟制爵辨賢 帝
hữu thành. Duy chế tước biện hiền, đế
(Dòng 2) 王之公導 斯在而廣
vương chi công đạo. Tư tại nhi quảng
(Dòng 3) 恩存勸 國家之典則
ân tồn khuyến, quốc gia chi điển tắc
(Dòng 4) 有常 是用特封爾為
hữu thường. Thị dụng đặc phong nhĩ vi
(Dòng 5) 樂化郡公 錫之冊印
Lạc Hóa quận công. Tích chi sách ấn.
(Tờ 5. Dòng 1) 爾其 履道謙謙 秉心
Nhĩ kì: Lý đạo khiêm khiêm, bỉnh tâm
(Dòng 2) 翼翼 為臣為子 永懷忠孝之彝
dực dực. Vi thần vi tử, vĩnh hoài trung hiếu chi di;
(Dòng 3) 而身而家 長荷寵光之錫 欽哉
Nhi thân nhi gia, trường hạ sủng quang chi tích.
Khâm tai!
(Dòng 4) 嗣德拾壹年陸月拾玖日改給
Tự Đức thập nhất niên lục nguyệt thập cửu nhật cải cấp.
…………………….
Photograp Tích chi sách ấn:
* Bảo Tiến cung cấp
• Phiên âm:
TS. Võ Vinh Quang
• Cung lục hán tự:
Nguyễn Hữu Bảo Nam
Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026
.:':.. VĂN HÓA DÒNG TỘC NGUYỄN BẶC
Đảng và Nhà nước hơn chục năm gần đây rất quan tâm văn hóa Gia phả (dòng họ, tộc" nói riêng, và chú trọng đặc biệt tới Lịch sử nói chung. Hưởng ứng việc bảo vệ gìn giữ văn hóa dòng họ, tộc thì rất nhiều các họ, tộc điển hình như Đinh - Lê - Trần - Trịnh - Phạm - Lưu - Đoàn - Bùi - Nguyễn, ...vv khi chúng ta tiếp cận những cuốn Gia phổ đặc biệt bằng chữ hán - nôm, hầu hết đều gặp không ít khó khăn do đứt gãy văn hoá chữ Hán - Nôm và tài liệu sử - phả cũng như các tài liệu sử ký, mộc bản, hay các thư tịch cổ liên quan vv...cũng như cách trình bày xây dựng gia phả Việt Nam truyền thống.
Tên người sống gọi là danh, tên người chết gọi là húy. Như người ta nói kiêng tên húy, không dám gọi đúng tên mà gọi chạnh đi vậy ngay khi chúng ta phiên âm sẽ bắt gặp 2 chữ “QUÝ CÔNG" ngay trước tên HÚY". Ví dụ: 阮貴公諱匐
Nguyễn quý công, húy Bặc
(Thái thủy tổ của chúng ta "Triều Đinh Thái tể - Định quốc công Nguyễn Bặc".
Bà con họ NGUYỄN chúng ta hãy cẩn trọng và chú ý phần này vì rất dễ lầm tưởng là tên HÚY hoặc tên RIÊNG của Tổ tiên, vì thực tế không ít người lại ngộ nhận luôn chữ QUÝ là Tên đệm của dòng họ NGUYỄN. Bởi thực tế có những truyền miệng nghe mà cười ra nước mắt rằng như có người tính thích khoe mẽ còn nói to rằng "CỤ TỔ nhà tôi ngày xưa làm quan to lắm, là NGUYỄN QUÝ CÔNG cơ đấy”. Chưa hết lại thêm một người lớn tuổi hơn thêm câu nói một cách đầy hãnh diện "Các cụ nhà tôi đều làm to cả, cụ nào cũng làm tới chức QUÝ CÔNG”. Thực ra rất nguy hiểm vì nó làm lệch đường ray gây ảnh hưởng đến Lịch sử/ phả, văn hóa và dòng họ, tộc NGUYỄN nhà mình thiếu chính xác, không đồng nhất gây tranh cãi, làm nhiễu thông tin cho con cháu hiểu cặn kẽ về Tổ tiên của mình.
貴公: QUÝ CÔNG đơn thuần dùng chung cho một cụ (ÔNG). Trong Gia phả bà con hay thấy ở phần mở đầu để dẫn nhập Tên huý, Tên tự, Tên thuỵ của cụ Ông đã khuất.
Ví dụ: 阮有貴公 諱鎰 諡曰勤節凉武之神
NGUYỄN HỮU QUÝ CÔNG HÚY DẬT THỤY VIẾT CẦN TIẾT LƯƠNG VŨ CHI THẦN
* Nghĩa: 𝑄𝑢𝑦́ 𝑜̂𝑛𝑔 ℎ𝑜̣ Nguyễn Hữu
- 𝑡𝑒̂𝑛 ℎ𝑢𝑦́: Dật
- 𝑡𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑢𝑦̣: Viết cần tiết Lương vũ chi thần
- tên tặng phong là Tĩnh quốc công
Nhà con Nguyễn Hữu Bảo Nam phân 12 phòng thuộc trực hệ ngài Vũ quận công, Hào lương hầu Nguyễn Hữu Hào tự Bảng, thụy Nhu từ và Nguyễn Hữu Thắng phân 4 phòng thuộc trực hệ ngài Nguyên tể Lễ quận công, Vĩnh an hầu Nguyễn Hữu Cảnh, húy Kính, tự Thành, thụy Cương trực cũng không ngoại lệ đến thời Minh mệnh Gia phả bị thất lạc, anh em ly tán, nhà đất bị cướp phá (Phả ký sau khôi phục truyền lại ghi " Binh hỏa chi dư, hiện tồn 5-6 người, ta là con cháu ngài Tĩnh quốc công chi hậu").
Xưa cuốn đầu vào thời Minh mệnh chỉ ghi được từ Hậu tổ Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật trở xuống nhờ được truyền miệng bậc cao niên trong họ, và cho biết thêm cao hơn nữa ta còn là hậu duệ của Thái sư Triều lê thời Tự đức con cháu đời sau được tập ấm vì có công phò Thế tổ và bảo vệ Quốc mẫu ở Quảng trị sau đó nhận lệnh rước bà trở lại Phú xuân. Dòng họ được Thế tổ tin dùng và ban thưởng hậu hĩnh, ngoài việc tổ tiên Thế tổ ban được tùng tự Thái miếu ngài còn ban tước vị, con giao con cháu hưởng chức đội trưởng truyền đời trông nom trấn thủ phủ thờ tổ tiên nên có điều kiện hơn, mong muốn biết rõ Thượng tổ nhà ta là ai? Công trạng ra sao?
Không hiểu cụ thể thế nào mà cả 2 Tộc đều ghi chính xác được tất cả Tổ Biện tự 薦: TIẾN ghi ra 廌: TRÃI. Do tổ TIẾN cũng bị thất truyền danh tính rơi vào tình trạng thời gian xa cách, hơn nữa các cụ xa đời.
Do đó nhà cháu phiên âm chữ Hán tự bị sai, viết vào Gia phả sai, tiếp tục không ngừng ở đó, sau cụ Nguyễn Hữu Chỉnh, ... thời Minh mệnh, Nguyễn Hữu Thịnh phụng tu cát nhật tháng 1 Năm Tự Đức thứ 12, ngài Vĩnh quốc công Nguyễn Hữu Độ phụng tu 7 tháng 1 năm Tự Đức thứ 11, Cung lục lần 1 ông là tỉnh hạt hội viên Nguyễn Hữu Toàn phụng tu Nguyễn Hữu Tộc Tôn Đồ Gia Phổ. 15/9 năm Bảo Đại thứ 16, và gần đây nhất thập niên 90 lại có bà cô Nguyễn Ngọc Hiền ( Nguyễn Ngọc Như Hiên), năm 2010 tiếp tục Nội Nguyễn Hữu Ứng ( Sinh) nhà con viết ra chữ quốc ngữ. Do cung lục và phiên âm sai nên lây truyền có hệ thống, gây sự nhầm tưởng lớn về Tên húy và Tiểu sử của tổ tiên nhà mình.
Nhiều thế hệ, thậm chí tới thế kỉ XXI nhiều bà con trong họ đã ngộ nhận tổ tiên mình là TRÃI, và nhiều Tộc khác khuyết phả không tiện nói ra vì giữ thể diện ( Không dám chấp nhận và nhìn thẳng, nói thật khách quan như chúng ta hiện nay) cũng xin khảo cứu và cũng dẫm vào vết xe đổ này, rồi lấy thông tin đó để đi chấp nối Gia phả ở các cửa họ khác. Và tất nhiên, rất nhiều chi, tộc đã nhận nhau anh em, vì đều có chung cụ tổ là TRÃI. Nhưng tới năm 2010 họ dựa vào nhiều Gia phả chính thống có thời gian xa hơn, có sắc ấn vua ban, các mộc bản và Công nghệ thông tin bùng nổ đã tiếp cận một số tài liệu và phổ tiền biên đã kịp thời chỉnh lý cho tới nay đã hoàn thiện 95% Gia phả trực hệ của mình.
Cũng là 季公: 𝗤𝘂𝘆́ 𝗖𝗼̂𝗻𝗴, nhưng nó lạ lắm vì QUÝ này chỉ người con trai Út trong gia đình. 2 thuật ngữ Quý Công cùng sử dụng trong 1 bộ Gia phả, để mọi người có cái nhìn khách quan về vấn đề này ngày xưa lối viết Gia phả và Thần vị, ...
Vi dụ: 1. 孟公: Mạnh Công
Thường viết con trai trưởng
(Cũng có dòng tộc, họ lại gọi dòng trưởng là “Bá“),
2. 仲公: Trọng Công (Con thứ)
3. 季公: Quý công ( Con út)
* Bảo Nam - phòng Tĩnh quốc công
Tộc Nguyễn Hữu - Gia Viễn)
Tel: 039 267 4444
Email: khoinguyenduong@gmail.com
Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026
Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026
. :':.. VĂN HÓA DÒNG TỘC NGUYỄN BẶC
Hội đồng Dòng tộc Nguyễn Bặc Toàn quốc là tổ chức đại diện cho con cháu dòng tộc Nguyễn Bặc trên cả nước, có trụ sở tại Nhà thờ Tổ "Khởi Nguyên Đường" ở xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, nơi thờ tự Thái Tể Triều Đinh - Định Quốc Công Nguyễn Bặc.
Hội đồng chịu trách nhiệm tổ chức các lễ giỗ (14-15/10 âm lịch) và các hoạt động văn hóa, tâm linh, bảo tồn di tích, kết nối dòng tộc trên khắp mọi miền, đặc biệt là các đại diện ở miền Nam như ông Nguyễn Hữu Thọ từ Bà Rịa Vũng Tàu.
Mục đích và Hoạt động chính
* Quản lý Di tích: Chịu trách nhiệm trông coi và bảo vệ Khu nhà thờ và Mộ Nguyễn Bặc, một di tích lịch sử quan trọng.
* Tổ chức Lễ hội: Hàng năm tổ chức lễ giỗ Đức Thái Thủy Tổ Nguyễn Bặc vào ngày 14-15/10 Âm lịch,.
* Kết nối Dòng tộc: Thúc đẩy sự đoàn kết và kết nối các chi nhánh trong dòng họ trên cả nước.
* Phát triển Dòng họ: Xây dựng kế hoạch phát triển, huy động nguồn lực và mở rộng các hoạt động thờ cúng.
* Địa chỉ: Nhà Thờ Tổ “Khởi Nguyên Đường”, Thôn Vĩnh Ninh – Xã Gia Phương – Huyện Gia Viễn – Tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.
Vai trò trong Dòng tộc
Ngài Nguyễn Bặc được suy tôn là Thái Thủy Tổ của Dòng Tộc Nguyễn Đại Tông, tổ tiên của dòng họ Nguyễn chính thống tại Việt Nam, gắn liền với lịch sử triều Đinh.
Hoạt động gần đây:
* Vào tháng 2/2024, Hội đồng đã tổ chức cuộc họp tổng kết 12 năm và bàn kế hoạch tương lai, có sự tham gia của đại diện dòng tộc ở miền Nam.
* Đã có các ý kiến thảo luận về việc quy hoạch khu lăng mộ, mở rộng di tích và xây dựng các nhà thờ vọng tại các vùng miền.
STAI
Đảng và Nhà nước hơn chục năm gần đây rất quan tâm văn hóa Gia phả (dòng họ, tộc" nói riêng, và chú trọng đặc biệt tới Lịch sử nói chung. Hưởng ứng việc bảo vệ gìn giữ văn hóa dòng họ, tộc thì rất nhiều các họ, tộc điển hình như Đinh - Lê - Lý - Trần - Trịnh - Phạm - Lưu - Đoàn - Bùi - Nguyễn, ...vv khi chúng ta tiếp cận những cuốn Gia phổ đặc biệt bằng chữ hán - nôm, hầu hết đều gặp không ít khó khăn do đứt gãy văn hoá chữ Hán - Nôm và tài liệu sử - phả cũng như các tài liệu sử ký, mộc bản, hay các thư tịch cổ liên quan vv...cũng như cách trình bày xây dựng gia phả Việt Nam truyền thống.
Tên người sống gọi là danh, tên người chết gọi là húy. Như người ta nói kiêng tên húy, không dám gọi đúng tên mà gọi chạnh đi vậy ngay khi chúng ta phiên âm sẽ bắt gặp 2 chữ “QUÝ CÔNG" ngay trước tên HÚY". Ví dụ: 阮貴公諱匐
Nguyễn quý công, húy Bặc
(Thái thủy tổ của chúng ta "Triều Đinh Thái tể - Định quốc công Nguyễn Bặc".
Bà con họ NGUYỄN chúng ta hãy cẩn trọng và chú ý phần này vì rất dễ lầm tưởng là tên HÚY hoặc tên RIÊNG của Tổ tiên, vì thực tế không ít người lại ngộ nhận luôn chữ QUÝ là Tên đệm của dòng họ NGUYỄN. Bởi thực tế có những truyền miệng nghe mà cười ra nước mắt rằng như có người tính thích khoe mẽ còn nói to rằng "CỤ TỔ nhà tôi ngày xưa làm quan to lắm, là NGUYỄN QUÝ CÔNG cơ đấy”. Chưa hết lại thêm một người lớn tuổi hơn thêm câu nói một cách đầy hãnh diện "Các cụ nhà tôi đều làm to cả, cụ nào cũng làm tới chức QUÝ CÔNG”. Thực ra rất nguy hiểm vì nó làm lệch đường ray gây ảnh hưởng đến Lịch sử/ phả, văn hóa và dòng họ, tộc NGUYỄN nhà mình thiếu chính xác, không đồng nhất gây tranh cãi, làm nhiễu thông tin cho con cháu hiểu cặn kẽ về Tổ tiên của mình.
貴公: QUÝ CÔNG đơn thuần dùng chung cho một cụ (ÔNG). Trong Gia phả bà con hay thấy ở phần mở đầu để dẫn nhập Tên huý, Tên tự, Tên thuỵ của cụ Ông đã khuất.
Ví dụ: 阮有貴公 諱鎰 諡曰勤節凉武之神
NGUYỄN HỮU QUÝ CÔNG HÚY DẬT THỤY VIẾT CẦN TIẾT LƯƠNG VŨ CHI THẦN
* Nghĩa: 𝑄𝑢𝑦́ 𝑜̂𝑛𝑔 ℎ𝑜̣ Nguyễn Hữu
- 𝑡𝑒̂𝑛 ℎ𝑢𝑦́: Dật
- 𝑡𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑢𝑦̣: Viết cần tiết Lương vũ chi thần
- tên tặng phong là Tĩnh quốc công
Nhà con Nguyễn Hữu Bảo Nam phân 12 phòng thuộc trực hệ ngài Vũ quận công, Hào lương hầu Nguyễn Hữu Hào tự Bảng, thụy Nhu từ và Nguyễn Hữu Thắng phân 4 phòng thuộc trực hệ ngài Nguyên tể Lễ quận công, Vĩnh an hầu Nguyễn Hữu Cảnh, húy Kính, tự Thành, thụy Cương trực cũng không ngoại lệ đến thời Minh mệnh Gia phả bị thất lạc, anh em ly tán, nhà đất bị cướp phá (Phả ký sau khôi phục truyền lại ghi " Binh hỏa chi dư, hiện tồn 5-6 người, ta là con cháu ngài Tĩnh quốc công chi hậu").
Xưa cuốn đầu vào thời Minh mệnh chỉ ghi được từ Hậu tổ Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật trở xuống nhờ được truyền miệng bậc cao niên trong họ, và cho biết thêm cao hơn nữa ta còn là hậu duệ của Thái sư Triều lê thời Tự đức con cháu đời sau được tập ấm vì có công phò Thế tổ và bảo vệ Quốc mẫu ở Quảng trị sau đó nhận lệnh rước bà trở lại Phú xuân. Dòng họ được Thế tổ tin dùng và ban thưởng hậu hĩnh, ngoài việc tổ tiên, đức Thế tổ chỉ dụ được tùng tự Thái miếu. Riêng đức Thánh tổ cũng ban sắc, tước vị, thụy lại, còn phần con cháu cho giữ chức đội trưởng truyền đời trông nom trấn thủ phủ thờ tổ tiên nên có điều kiện hơn, mong muốn biết rõ Thượng tổ nhà ta là ai? Công trạng ra sao?
Không hiểu cụ thể thế nào mà cả 2 Tộc đều ghi chính xác được tất cả Tổ Biện tự 薦: TIẾN ghi ra 廌: TRÃI. Do tổ TIẾN cũng bị thất truyền danh tính rơi vào tình trạng thời gian xa cách, hơn nữa các cụ xa đời.
Do đó nhà cháu phiên âm chữ Hán tự bị sai, viết vào Gia phả sai, tiếp tục không ngừng ở đó, sau cụ Nguyễn Hữu Chỉnh, ... thời Minh mệnh, Nguyễn Hữu Thịnh phụng tu cát nhật tháng 1 Năm Tự Đức thứ 12, ngài Vĩnh quốc công Nguyễn Hữu Độ phụng tu 7 tháng 1 năm Tự Đức thứ 11, Cung lục lần 1 ông là tỉnh hạt hội viên Nguyễn Hữu Toàn phụng tu Nguyễn Hữu Tộc Tôn Đồ Gia Phổ. 15/9 năm Bảo Đại thứ 16, và gần đây nhất thập niên 90 lại có bà cô Nguyễn Ngọc Hiền ( Nguyễn Ngọc Như Hiên), năm 2010 tiếp tục Nội Nguyễn Hữu Ứng ( Sinh) nhà con viết ra chữ quốc ngữ. Do cung lục và phiên âm sai nên lây truyền có hệ thống, gây sự nhầm tưởng lớn về Tên húy và Tiểu sử của tổ tiên nhà mình.
Nhiều thế hệ, thậm chí tới thế kỉ XXI nhiều bà con trong họ đã ngộ nhận tổ tiên mình là TRÃI, và nhiều Tộc khác khuyết phả không tiện nói ra vì giữ thể diện ( Không dám chấp nhận và nhìn thẳng, nói thật khách quan như chúng ta hiện nay) cũng xin khảo cứu và cũng dẫm vào vết xe đổ này, rồi lấy thông tin đó để đi chấp nối Gia phả ở các cửa họ khác. Và tất nhiên, rất nhiều chi, tộc đã nhận nhau anh em, vì đều có chung cụ tổ là TRÃI. Nhưng tới năm 2010 họ dựa vào nhiều Gia phả chính thống có thời gian xa hơn, có sắc ấn vua ban, các mộc bản và Công nghệ thông tin bùng nổ đã tiếp cận một số tài liệu và phổ tiền biên đã kịp thời chỉnh lý cho tới nay đã hoàn thiện 95% Gia phả trực hệ của mình.
Cũng là 季公: 𝗤𝘂𝘆́ 𝗖𝗼̂𝗻𝗴, nhưng nó lạ lắm vì QUÝ này chỉ người con trai Út trong gia đình. 2 thuật ngữ Quý Công cùng sử dụng trong 1 bộ Gia phả, để mọi người có cái nhìn khách quan về vấn đề này ngày xưa lối viết Gia phả và Thần vị, ...
Vi dụ: 1. 孟公: Mạnh Công
Thường viết con trai trưởng
(Cũng có dòng tộc, họ lại gọi dòng trưởng là “Bá“),
2. 仲公: Trọng Công (Con thứ)
3. 季公: Quý công ( Con út)
* Bảo Nam - phòng Tĩnh quốc công
Tộc Nguyễn Hữu - Gia Viễn)
Tel: 039 267 4444
Email: khoinguyenduong@gmail.com
TM/ HỘI ĐỒNG DÒNG TỘC NGUYỄN BẶC TOÀN QUỐC
Xin tiếp nhận ý kiến đóng góp qua Email: khoinguyenduong@gmail.comBÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU NHẤT
-
Diễu hành trong Lễ ra quân huấn luyện thành phố Ninh Bình. Ảnh: Thế Minh. 1. Nguyễn Hữu An, Thượng tướng; nguyên Viện trưởng Học viện qu...
-
Từ xưa, ông cha ta rất quý trọng nhân tài, nhất là những người có học thức cao, thành đạt trong học tập, thi cử. Vì vậy, đã lập ra Văn Miế...
-
Nguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), 1380 – 1442 , là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông được xem là một anh hùng...
-
Cửu: Chín, thứ chín. Huyền: ý nói đời, thế hệ. Thất: bảy. Thất Tổ là bảy ông Tổ của dòng họ nhà mình. Thờ Cửu Huyền thì mình là ...
-
Về Họ Nguyễn Phước ... Bài viết này không phải là một biên khảo hoàn chỉnh. Trong một phạm vi có giới hạn, người viết chỉ mong điều chỉnh v...
-
HỌ NGUYỄN HỮU Động Hoa Lư, Châu Đại Hoàng, Đại Cồ Việt (cũ) (Nay là Động Hoa Lư “Hoa Tiên”, Xã Gia Hưng, Huyện Gia Viễn, Tỉnh Ninh Bình,...
-
Nguyễn Hữu Cảnh : (con thứ ba của Nguyễn Hữu Dật) Lễ Thanh Hầu Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1680 (Canh Dần) tại Phước Long, xã Chương Tín Phong...
-
Gia phả học hiện nay được phát triển chưa từng thấy, từ các báo chí chuyên ngành đến các site trên Internet, đều có những chương trình tì...
-
Tống Sơn Đất Bắc Gia Hoàng Tổ Ngọc Lĩnh Trời Nam Quốc Phúc Thần. (Liễn) Chúc mừng chi tộc Nguyễn Duy Quây quần tề tựu thôn nhà Trung S...
-
ĐINH CÔNG VĨ Viện Nghiên cứu Hán Nôm “Luật thứ nhất của Sử học là không dám nói láo. Luật thứ hai là không sợ nói hết sự thật” ...








