Sưu tra, nghiên cứu và thực hành phổ hệ

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

ĐÓNG GÓP TIỀN SỬA LĂNG MỘ VÀ TỪ ĐƯỜNG

DANH SÁCH BÀ CON HƯỞNG ỨNG THƯ KÊU GỌI  CỦA BAN CHỦ TỰ PHỦ TUY LÝ VƯƠNG ĐÓNG GÓP TIỀN SỬA LĂNG MỘ VÀ TỪ  ĐƯỜNG
(Danh sách cập nhật thường xuyên, từ ngày 09-09-2010)
Mọi đóng góp xin chuyển về s tài khoản CHTN DiệuVân : 0161000002783 Vietcombank


Số TT
Họ và Tên /
Ngày phụng cúng
Ghi chú
Địa chỉ liên lạc
Số tiền

Bà Công TN Quy Hồng ( Đa Đa)
(09-9-10)
con ô Hồng Dủ
TP.Hồ Chí Minh
3.000.000 đ

Bà C.Tằng Hỷ Thắng
(09-9-10)
con ô Ư.
TP.Hồ Chí Minh
1.000.000 đ

Ông  Bảo An
(10-9-2010)

Phòng Phú Lương Công, TPHCM
500.000 đ

Ông Bửu Ý
(15-9-10)
con ô. Ưng Cự
09  Phạm Ngũ Lão, Huế
200.000 đ

Bà C.Tằng Minh Hoà
(15-9-10)
con ô Ư.Cự
03/1 Đội Cung, Huế
500.000 đ

Ông Bửu Tứ (Quang)
(15-9-10)
con ô. Ưng Cự
Phạm Ngũ Lão, Huế
100.000 đ

GĐ Ông Bửu Phấn
(18-9-10)
con ô. Ưng Thể
TP. HCM
1.000.000 đ

Ông Bửu Hồng
(22-9-10)
con ô. Ưng Thể
2/26 Nguyễn Thiện Thuật, Huế
500.000 đ

Gia đình bà  Bửu Đa
(01-10-10)
(tiền quét vôi nhà thờ Đức Từ)
142 Nguyễn Sinh Cung, Huế
960.000 đ

Ông Bửu Liêu
(01-10-10)
con ô. Ưng Dự
98 Chi Lăng, Huế
500.000 đ

Ông Vĩnh Khánh
(01-10-10)
con ô. Bửu Dục
109 Nguyễn Sinh Cung, Huế
500.000 đ

Bà C.Huyền TN. Diệu Vân
(01-10-10)
con ô. Bửu Vụ
179 Nguyễn Sinh Cung, Huế
200.000 đ

Bà C.Huyền TN. Quỳnh Hoa
(03-10-10)
con ô. Bửu Đáp
119 Nguyễn Sinh Cung, Huế
500.000 đ

Bà C.Tằng TN. Oanh
 (23-10-10)
con ô. Ưng An
133 Nguyễn Sinh Cung, Huế
500.000 đ

Ông Jean Luc Nguyễn
(13-10-10)
con ô. Ưng Sao
Pháp
300 EURO

Bà C.Huyền TN. Khánh Vân
(18-11-10)
con ô. Bửu Vụ
TP Đà Lạt
1.000.000 đ

Bà C.Huyền TN. Giáng Vân
(18-11-10)
con ô. Bửu Vụ
TP Đà Lạt
500.000 đ

Bà C.Tằng TN. Á Nam
(18-11-10)
con ô. Ưng Uý
TP .HCM
1.000.000 đ

Bà C.Tằng TN. Lục Hà
(18-11-10)
con ô. Ưng Uý
TP .HCM
300.000 đ

Ô.Bà C.Tằng TN. Kim Phụng
(18-11-10)
con ô. Ưng Dinh
Phạm Ngũ Lão, Huế
500.000 đ

Ô.Bà Bửu Lực
(28-11-10)
con ô. Ưng Dinh
Phạm Ngũ Lão, Huế
500.000 đ

Gia đình Ô.Bà Bửu Chỉ
(28-11-10)
con ô. Ưng Thuyên
279 Nguyễn Sinh Cung, Huế
400.000 đ

Ô.Bà Bửu Viên,Vĩnh Khương
(28-11-10)
con ô. Ưng Thuyên
279 Nguyễn Sinh Cung, Huế
300.000 đ

 C.Tằng TN Yến
(28-11-10)
con ô. Ưng An
Hoa Kỳ
1.800.000 đ

 C.Tằng TN Cẩm Vân
(28-11-10)
con ô. Ưng Súc
Điện Biên Phủ, Huế
500.000 đ

Bà Huyền TN Trúc Hà
(28-11-10)
con ô. Bửu Hệ
Huế
200.000 đ

Bà Huyền TN Huyền Huế
(28-11-10)
con ô. Bửu Hệ
Huế
100.000 đ

Ô.Bà Bửu Dục
(28-11-10)
con ô. Ưng Tôn
109 Nguyễn Sinh Cung, Huế
500.000 đ

Bà Nguyễn Thị Huệ
(28-11-10)
con ô. Bửu Hệ
Ngự Bình, Huế
500.000 đ

Ô.Vĩnh Cờ 
(28-11-10)
con ô. Bửu
96 Nguyễn Sinh Cung, Huế
100.000đ

Gia đình Ô.Bửu Lâm,Bửu Hồ, CTTN Hương Thanh, CTTN Cẩm Vân
(29-12-10)


200 USD

Ni sư Vin ch Thin quang T
(10-01-11)
Thị xã Midway ,Orange county, Hoa K

100 USD

 Nguyễn thị Nghiên
(10-01-11)
hậu tôn cụ Ưng Thông
Hoa K
100 USD

Bà CTTN Yến
(10-01-11)
con cụ Ưng An
Sanjose, Hoa Kỳ + (kinh phí làm đường vào lăng TLV= 7 triệu đồng VN ngày 14-1-2011)
300 USD7.000.000 đ

Bà CTTNOanh,chồng Trần văn Khuyến
(10-01-11)
gia đình cụ Bửu Khoa (con cụ Ưng Nghệ)
Sanjose, Hoa Kỳ
300 USD

Ô.Vĩnh Hầu
(10-01-11)
con cụ Bửu Đáp
Hoa Kỳ
100 USD

Ô.Vĩnh Hòa
(10-01-11)
con cụ Bửu Sum
Hoa Kỳ
100 USD

 CTTN Lân Hành

con cụ Ưng Tộ
Hoa Kỳ
100 USD

Ô Bà Trần trọng Hiếu

con bà TN Quyên(con cụ Thừa Trai)
Hoa Kỳ
50 USD

 CTTN Non Ngàn

con cụ Ưng
Huế
200.000 đ

Nguyễn Ngọc Anh Vũ


Huế
100.000 đ

 Trần Thị Kim Thanh


Huế
200.000 đ

 Mai Hữu BăngThanh
(10-02-11)
con cụ Mai Hữu Bảo
TP Hồ Chí Minh
300.000 đ

Tổng cộng đến ngày 10-01-2011
Hai mươi lăm triệu sáu trăm sáu chục ngàn đồng, 300 EURO và 1.350 USD
25.660.000 đ
300 EURO 1.350USD

Vỹ Dạ, ngày 10 tháng 01 năm 2011
Chủ tự Phủ Tuy Lý



Bửu Hồng
Thủ Quỹ


CH TN Diệu Vân
Người lập danh sách



Vĩnh Khánh

Hình ảnh Lễ húy kỵ Đức Thái Tổ ngày 03/06 năm Tân Mão

Bảo An xin gửi đến quý Mệ vài tấm hình ghi được trong buổi Lễ húy kỵ Đức Thái Tổ ngày 03/06 năm Tân Mão (ngày 03/07/2011) tại Triệu Tổ Miếu, Kinh thành Huế.
 

















 





 

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Miếu thờ Cụ đời thứ 12 Tộc Họ "Nguyễn Hữu" Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật


Ngày 17 tháng 3 năm 2011, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 606/QĐ-UBND về việc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh đối với Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật tại Xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Vai trò và những đóng góp của Nguyễn Hữu Dật đối với quá trình mở mang bờ cõi, phát triển xã hội của các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong:
Nguyễn Hữu Dật sinh năm Quý Mùi (1603) là con của Nguyễn Triều Văn, người làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nguyễn Triều Văn cùng một ông tổ (năm đời) với Nguyễn Hoàng, theo chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá được phong làm Tham Tướng Chưởng Cơ. Từ nhỏ Nguyễn Hữu Dật là một con người thông minh và có tài văn học, năm 16 tuổi (1619) ông được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên bổ làm Văn chức, sau đó ông làm tham mưu cho cha mình tham dự các trận đánh lớn quân Trịnh ở phía Bắc lập được nhiều công lớn, được thăng chức Đốc Chiến, Chưởng dinh Tiết Chế tước Chiêu Võ Hầu (năm 1655).
Trong đời các chúa Sãi, Chúa Thượng, Chúa Hiền, cùng với Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Tiến, ông là một trong ba nhân vật trụ cột, đã có nhiều đóng góp đáng kể cho công cuộc mở nước, xây dựng bờ cõi, chống lại với các thế lực quân Trịnh ở Đàng Ngoài. Vào các năm 1648, 1660, ông cùng Nguyễn Hữu Tiến đem quân vượt sông Gianh chiếm đất Bố Chính, Nghệ An, Thanh Hoá, xây dựng hệ thống phòng thủ ở luỹ Nhật Lệ, Trường Sa, Đồng Hới (Quảng Bình). Từ năm 1663 cho đến khi qua đời, Nguyễn Hữu Dật được phong làm Chưởng Dinh Tiết Chế Đạo Lưu Đồn, Trấn thủ dinh Bố Chính.
Tháng 3 năm Tân Dậu (1681) Nguyễn Hữu Dật qua đời tại Quảng Bình, thọ 78 tuổi, được chúa Nguyễn Phúc Tần truy tặng: Tán Trị Tĩnh Y Vệ Tả Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự Chiêu Quận Công. Sử nhà Nguyễn khen ngợi: “Nguyễn Hữu Dật là người sáng suốt, có tài thao lược, đầu tư cách văn chức được dùng làm giám chiến, danh vọng vốn đã rõ ràng, đến khi làm tướng thì nhiều lần dựng bày mưu lớn, đương thời lấy ỷ làm trọng, từng ví mình với Khổng Minh, Bá Ôn”( ). Sau khi ông mất dân Quảng Bình tiếc nhớ, gọi là Bồ Tát, lập đền thờ ông ở Thạch Xá. Năm Gia Long thứ 5 (1807) được Tòng tự ở Thái Miếu, năm Minh Mạng thứ 12 (1832) được phong Tĩnh Quốc Công. Hai con trai của ông là Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu Cảnh cũng có những đóng góp đáng kể cho các chúa Nguyễn, đặc biệt Nguyễn Hữu Cảnh được phong tước Lễ Thành Hầu, chức Chưởng binh, người có công rất lớn trong công tác bình định, khai hoang lập ấp ở miền Nam.
Lịch sử hình thành Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật
Theo các nguồn tư liệu lịch sử cho biết: Năm 1635 chúa Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, ngôi vị được truyền lại cho chúa Nguyễn Phúc Lan. Qua gần 10 năm phát triển, lực lượng đã lớn mạnh gấp nhiều lần so với trước kia. Các tổ chức chính trị, hành chính, quân sự, kinh tế được tăng cường đầy đủ nhiều hơn. Đến lúc này, Phước Yên trở thành “đất đai chật hẹp”, không đủ chỗ cho các cơ quan, dinh trại tọa lạc nữa, chúa Nguyễn Phúc Lan quyết định và đến tháng Chạp năm Ất Hợi (1636) thì dời vào phủ Kim Long, “là nơi núi sông đẹp tốt".
Từ đó phủ Phước Yên tồn tại với nhiệm vụ của một hành cung như các dinh khác, thỉnh thoảng các chúa ghé nghỉ ngơi mỗi khi đi kinh lý vùng phía Bắc...tháng 4 năm Giáp Thân (1644), chúa Nguyễn Phúc Lan sai “dựng miếu Hi Tông (thờ chúa Nguyễn Phúc Nguyên) ở dinh cũ Phước Yên” và cho người phụ trách coi giữ miếu thờ này, đó là Huân liệt công thần cai đội Duyệt Đức Hầu Hoàng Văn Duyệt.
Khoảng năm 1681, khi Nguyễn Hữu Dật qua đời, chúa Nguyễn Phúc Nguyên được đưa về thờ ở phủ Kim Long, thì nơi này sử dụng để thờ Nguyễn Hữu Dật - người có công lao giúp các chúa Nguyễn giữ yên bờ cõi ở phía Bắc, ổn định tình hình chính trị và phát triển ở vùng đất mới. Đồng thời bằng cách đó chúa Nguyễn Phúc Lan muốn để cho hậu thế biết được nơi đây là “đất thiêng” đã một thời là thủ phủ Đàng Trong. Nhân dân Phước Yên thờ tự, chăm sóc cho đến ngày nay.
Trải qua thời gian, chiến tranh và sự tàn phá của khí hậu miền Trung, Miếu đã bị tàn phá và xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2000, nhân dân địa phương đã đóng góp kinh phí để trùng tu và sửa chữa lại ngôi miếu. Trong lần xây dựng này, ngôi miếu được mở rộng thêm phần Tiền Đường ra phía trước, còn phần Nội Điện vẫn được giữ nguyên trên nền móng của ngôi miếu.
Khảo tả di tích
Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật nằm ở vị trí trung tâm khu vực Phủ Phước Yên, mặt quay về hướng Tây Nam, cách sông Bồ (Bến Ngự Hà) khoảng 160m, miếu ẩn dưới tán cây cổ thụ, tọa lạc trên thửa đất có ký hiệu T , xung quanh là ruộng lúa, hoa màu của dân làng Phước Yên, gồm: Bình phong; Sân và Miếu thờ (Tiền đường và hậu điện).
Trong đó: Bình phong cao 1,4m, dài 2,5m, được xây đặc theo kiểu cuốn thư, phía trước đắp chữ Thọ, bằng chất liệu xi măng bột màu, phía sau đặt một đỉnh ximăng để thắp nhang và đốt vàng mã trong những lần lễ, kỵ. Giữa bình phong và miếu là khoảng sân hẹp được đúc bằng xi măng, có chiều dài 6m, chiều rộng 6m (diện tích 36m2). So với các công trình kiến trúc dân gian thờ tự ở Thừa Thiên Huế, thì miếu thờ Nguyễn Hữu Dật có quy mô không lớn và cách thờ tự cũng đơn giản, phía trước là phần Tiền Đường nhỏ, hình chữ nhật, diện tích 11,25m2 (4,5m x  2,5m), để trống, phần mái đổ bê tông cốt thép, hai đầu hồi được gắn hình tượng “Long hồi” ở giữa là “Mặt nguyệt”. Tất cả được ghép bằng chất liệu sành sứ, màu sắc hài hoà đã làm cho phần mái nổi hẳn lên. Đây là kiểu kiến trúc theo đề tài “Lưỡng long chầu nguyệt” ở các công trình kiến trúc dân gian xứ Huế mà chúng ta thường gặp. Phần dưới của nhà tiền đường được thiết kế đơn giản, ở giữa là hai cột trụ đặt trên hai chân đá tảng hình quả bí tròn bằng bê tông, hai bên là bức tường vách, nối liền với mái và hậu điện, phía trước tường vách là hai câu đối chữ Hán viết bằng màu, nội dung ca ngợi cảnh sông núi hữu tình, ơn đức của các chúa Nguyễn cũng như niềm vui thái bình của vùng đất Phước Yên.
Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật
Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật - di tích quí hiếm về thời kỳ các chúa Nguyễn trên đất Thừa Thiên Huế
Những công lao đóng góp của Chiêu Võ hầu Nguyễn Hữu Dật gắn liền với quá trình phát triển lớn mạnh, mở mang bờ cõi, xây dựng và củng cố lực lượng của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đặt cơ sở cho bước đầu xây dựng và phát triển của vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế sau này. Vậy nên, việc tồn tại miếu thờ Nguyễn Hữu Dật không những thể hiện tình cảm, quí trọng của nhân dân địa phương đối với người có nhiều đóng góp to lớn đối với vùng đất trù phú này, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam mà đó còn là sự đánh dấu vai trò quan trọng trong việc phát triển thế và lực của các chúa Nguyễn.
Việc nghiên cứu xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích miếu thờ Nguyễn Hữu Dật là một việc làm có ý nghĩa, giá trị nhân văn to lớn, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân trong vùng, đồng thời phục vụ tốt công tác giáo dục truyền thống cho các thế hệ, nghiên cứu học tập của các đối tượng. Là cơ sở pháp lý để bảo tồn, gìn giữ và phát huy một cách tốt nhất, đầy đủ nhất những di tích quí hiếm về thời kỳ các chúa Nguyễn trên đất Thừa Thiên Huế.
Cùng với hệ thống các di tích lịch sử văn hoá ở huyện Quảng Điền như Thành Hoá Châu, Khu di tích lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, phá Tam Giang, Phủ Bác Vọng... Miếu thờ Nguyễn Hữu Dật là một địa điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

.:':. NGUYỄN HỮU TỘC PHỔ

                       

(Tờ 1, dòng 1) 靖國公阮有鎰世系
Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật thế hệ
(Thế  hệ dòng dõi Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật giữa các tông phái kế thừa nhau)

(Dòng 2) 苗裔阮有篹承奉先啟後
Miêu duệ Nguyễn Hữu Toản thừa phụng tiên khải hậu
(Con cháu đời sau Nguyễn Hữu Toản vâng lệnh thừa kế đời trước tiếp tục truyền lại)

(Dòng 1.1.2.3, phần dưới) 下一代阮有寶南恭錄己丑年九月十五日
Hạ nhất đại Nguyễn Hữu Bảo Nam cung lục Kỷ Mão niên, cửu nguyệt thập ngũ nhật.
(Thế hệ sau Nguyễn Hữu Bảo Nam kính cẩn sao chép bằng máy vi tính ngày hoàn thành ngày 15 tháng 9 năm 2009.)

(Dòng 3, Chữ trung tâm) 阮有族譜
NGUYỄN HỮU TỘC PHẢ
(Phả Tộc Nguyễn Hữu - Gia Viễn)

(Dòng 4&5)寧評省 家遠縣 家兴社 華仙村 峝華閭處
Ninh bình tỉnh Gia viễn huyện Gia hưng xã Hoa tiên thôn Động hoa lư xứ
(Xứ Động Hoa Lư, thôn Hoa Tiên, xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình)

(Tờ 2)                LỜI MỞ ĐẦU
Toàn bộ cuốn phú uý này là lược sử của dòng họ Nguyễn Hữu vì khi nó hoàn chỉnh sẽ phản ánh toàn diện thấu đáo và sâu sắc đến hết thảy vốn có của dòng họ Nguyễn Hữu cũng như lịch sử nhân dân đã được phản ánh chính từng cá nhân thuộc gia đình cùng huyết thống đã tạo nên dòng tộc. Vậy như sách bách tính thì “ tất cả các dòng tộc tạo thành một thực thể là đồng bào”. 

Với tình cảm ý thức, nhận thức của chúng ta từ các ngài Thủy Tổ đến Hậu Tổ và xuống đến Hậu Duệ là đã trải qua hàng trăm, hàng nghìn năm nay. Dòng họ ta có rất nhiều bộ sách, phú uý, gia phả, ngọc phả, tộc phả, thế phả, kim phả, ... Đã ghi chép đầy đủ người chết và người sống, trong họ tộc có bao nhiêu người, tên họ, ngày, tháng, năm sinh, mất, nơi chôn cất, hình thái, vóc dáng công tính và tính chất từng người. 

Dòng tộc Nguyễn Hữu chúng ta mong rằng con cháu luôn nhớ và hiểu tường tận rằng " Nếu dòng tộc họ nào không có phả đó chính là bị khuyết nó khác hẳn với có phả vì chúng ta trước hết thấy rất rõ ràng là dòng họ không có phả họ sẽ không thể nào hình dung được hoặc không thể nào phát huy được đúng truyền thống bản năng đã có từ chính dòng họ của mình, thậm chí họ coi những việc thiêng liêng của chúng ta giống như hiện tượng thiên tính. 

(Tờ 3)
Còn chúng ta, dòng tộc chúng ta thì sao? Về tâm lý dòng tộc chúng ta đã lưu truyền được phả nên chúng ta sẽ tự tin hơn, đường hoàng sống trong dòng tộc và khi tiếp xúc với xã hội. Ngoài ra chúng ta phát huy được bản năng vốn có của dòng tộc Nguyễn Hữu. 

Hơn nữa là năng lực cá nhân thấy cả tổ tiên điển hình như chi Nguyễn Hữu Hào có ông nội ta Nguyễn Hữu Nhởn ở Bình Phước hậu duệ đời thứ 10 và tôi Nguyễn Hữu Bảo Nam ở Sài Gòn đời thứ 12 và chi Nguyễn Hữu Cảnh có chú của ta Nguyễn Hữu Tiến ở Quảng Bình đời thứ 11, chú Nguyễn Hữu Ứng ở Khánh Hòa đời thứ 11 Hậu Tổ Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật  đều được tổ tiên báo mộng và thông hiểu rất nhiều mà dòng tộc ta gọi là căn cơ. Nhất là trong hoàn cảnh khó khăn với thử thách cao dòng tộc Nguyễn Hữu luôn có sự trân trọng và đáng kính sẽ cao hơn. 

" Con người có gốc sẽ khác xa với con người mất gốc hoặc chưa biết nguồn gốc". Chúng ta dựa vào sự phát triển của dòng tộc để tự hào hơn, tự tin hơn vì đây thuộc quy luật phát triển con người “ Hữu thỉ vô chung, tiếp nối mãi mãi"!
Nguyễn Hữu Bảo Nam 
Phòng Tĩnh Quốc Công
- Tộc Nguyễn Hữu - Gia Viễn
Email: khoinguyenduong@gmail.com
......                         
                               PHẢ KÝ
(Tờ 4, dòng 1) 家之有諾猶國之有史所以正尊派辦親踈而明世系也
Gia chi hữu phổ do quốc chi hữu sử sở dĩ chính tôn phái biện thân sơ nhi minh thế hệ dã.
(Nước Có sử thì nhà có gia phả, nhờ vậy mới chấn chỉnh được tôn phái, chỉ ra từng mối quan hệ bà con, để xác lập các thế hệ vậy.)

( Dòng 2) 余先人本清化, 河中府, 宋山縣, 上畔総, 嘉苗外庄, 貴鄊人
Dư tiên nhân bản Thanh Hóa, hà trung phủ, tống sơn huyện, thượng bạn tổng, gia miêu ngoại trang, quý hương nhân. 
(Tổ tiên ta gốc người trang Gia Miêu Ngoại, làng Quý, tổng Thượng Bạn huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.)

(Dòng 3) 於棃朝該縣人多㗰太祖嘉收皇帝入镇顺化
Ư Lê Triều cai huyện nhân đa tùng Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế nhập trấn Thuận Hóa. 
(Vào thời Lê Trung hưng nhiều người trong huyện theo vua Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế vào trấn Thuận Hóa.)

(Dòng 4) 田土三十畝立, 為朝尊社地分以便該縣人居住. 蒙勅賜割仙嫩戊林等社, 
điền thổ tam thập mẫu lập, vi triều tôn xã địa phận dĩ tiên cai huyện nhân cư trú. Mông sắc tứ cát tiên nộn Mậu Lâm đẳng xã, 
(được ban cấp cho vùng đất rộng 30 mẫu tại các xã Cát Tiên Nộn và Mậu Lâm lập thành xã Triều Tôn để cư ngụ.)

(Dòng 5) 余先祖亦右揷入該社傳至余
Dư Tiên Tổ diệc hữu sáp nhập cai xã truyền chí dư 
(Ông tổ ta cũng nhập vào xã ấy, truyền đến...)

#Ghi chú: Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế: Nguyễn Hoàng, con thứ Nguyễn Kim, vào trấn thủ đất Thuận Hóa năm 1556, giờ những người họ hàng ở huyện Tổng Sơn cùng những quân lính ở đất Thanh Nghệ, nhiều người đưa cả vợ theo đi, Nguyễn Hoàng vào động ở xã Ái Tử, huyện Đang Xương, tỉnh Quảng Trị và mở ra sự nghiệp các chúa Nguyễn Ở Đàng Trong về sau. 
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long truy phong cho Nguyễn Hoàng là Thái Tổ Gia dũ hoàng đế.

(Tờ 5, dòng 1) 太皇后船團来京扵瞻拜之日態朝阮樱重病肩輿囬家旬日析世
Thái Hoàng Hậu thuyền đoàn lai kinh ư chiêm bái chi nhật thái triều Nguyễn anh trọng bệnh kiên dư hồi gia tuần nhật chiết thể. 
(Đoàn thuyền Thái hậu đến kinh đô Hôm dự lễ chiêm bái, ông nội ta mắc phải bệnh nặng, nằm cáng về nhà, mười ngày sau thì qua đời.)

(Dòng 2) 扵臨終之辰迻燭曰 "我本朝竫国公阮有鎰公之後. 
Ư lâm chung ư thời di chúc viết " Ngã Bản Triều Tĩnh Quốc Công Nguyễn Hữu Dật Công Chi Hậu. 
(Ông nội ta khi lâm chung di chúc rằng: “Ta vốn là hậu duệ của Tinh Quốc Công Nguyễn Hữu Dật triệu chủ trước.)

(Dòng 3) 筌政侯長子仍兵火之餘墓幩失洛無從計究
Thuyên chính Hầu trưởng tử. Nhưng binh hỏa chi dư gia phổ, mộ phần thất lạc vô tòng kê cứu. 
(Thuyên Chính Hầu con trưởng. Nhưng vì binh hỏa chiến tranh, gia phả mộ phần tổ tiên thất lạc không thể kê cứu.)

(Dòng 4) 余先考生下, 
Dư tiên khảo sinh hạ, 
(Cha ta sinh ra)

(Dòng 5) 余兄弟五六人及余長成朝尊社人因兵革漂数未見囬復用土地, 
dư huynh đệ ngũ lục nhân cập dư trường thành triều tôn xã nhân nhận binh cách phiêu sổ vị kiến hồi phục vùng thổ địa 
(anh em ta năm sáu người, đến khi ra trưởng thành vì chiến tranh nên anh em ta phải rời khỏi xã Triều Tôn phiêu tán chưa có thể trở về)

(Tờ 6, dòng 6) 亦于他社所占余籍入楊春社以便應試, 
diệc vu tha xã sở chiếm dư tịch nhập dương xuân xã dĩ tiện ứng thí, 
(Ruộng đất cũng bị người khác chiếm mất. Ta nhập tịch xã Dương Xuân để tiện ứng thí.)

(Dòng 7) 余先考所述如此余三世祖以前在煙宓無可奈何述其所聞其, 所見以侯查訪
dư tiên khảo sở thuật như thử, dư tam thế tổ dĩ tiền tại yên mật vô khả nại hà thuật kỳ sở văn kỳ sở kiến dĩ hầu tra phỏng. 
(Theo lời cha ta kể lại thì những ghi chép cách ba đời về trước đã thất lạc cả không thể khôi phục lại được. Nay ta thuật lại những gì đã nghe được, thấy được để con cháu sau này có thể tra cứu.)

(Dòng 8) 静齊雙峯主人阮國瑞甫謹識
Tĩnh trai song phong chủ nhân Nguyễn quốc thụy phủ cẩn thức. 
(Song Phong chủ nhân, Tĩnh trai Nguyễn Quốc Thụy Phủ cẩn thức)

#Ghi chú: Thái hậu tức Hưng Tổ Hiểu Khang hoàng hậu NGUYỄN THỊ HOÀN. Khi quán Tranh  Phú Xuân bà lánh ở làng An Du Năm Kỷ Hợi (1779) về Phú Xuân tôn làm Quốc Mẫu Năm (1801).

(Tờ 7, dòng 1) 保大十六年九月十五日渻辖會员阮有全奉修阮有族尊图家譜
Bảo Đại thập lục niên cửu nguyệt thập ngũ nhật tỉnh hạt hội viên Nguyễn Hữu Toàn phụng tu Nguyễn Hữu Tộc Tôn Đồ Gia Phổ.
(Ngày 15 tháng 9 niên hiệu Bảo Đại năm thứ mười sáu, chức vụ Hội viện tỉnh hạt Nguyễn Hữu Toàn vâng lệnh tu chỉnh gia phả).

(Dòng 2) 家之有諾猶國之有史所以正尊派辦親踈而明世系也. 
Gia chi hữu phổ do quốc chi hữu sử sở dĩ chính tôn phái biện thân sơ nhi minh thế hệ dã.
(Nước có sử thì nhà có gia phả, nhờ vậy mới chấn chỉnh được tôn phái, chỉ rõ từng mối quan hệ bà con, để xác lập các thế hệ vậy,

(Dòng 3) 我本丁朝阮匐定国公之後. 
Ngã bản Đinh triều Nguyễn Bặc Định quốc công chi hậu. 
(Dòng họ ta kể từ Định Quốc công Nguyễn Bặc triều nhà Định trở về sau)

(Dòng 4) 自丁棃李陳棃多為公臣名相青史留方.
Tự Đinh Lê Lý Trần Lê đa vi công thần, danh tướng thanh sử lưu phương. 
(trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê nhiều người là công thần danh tướng, lưu tiếng thơm sử sách)

(, Dòng 5) 至陳末
Chí Trần mạt
(Cho đến cuối triều Trần)

(Dòng 6) 世世子孫爲名将, 至棃後棄数将終
Thế thế tử tôn vi danh tướng, chí lê hậu khí số tương chung.
(Con cháu ông thủy tổ đều là danh tướng cả, đến khi khi số nhà Lê sắp hết)

(Dòng 7) 幕氏篡逆, 鄭氏専権我
Mạc thị soán nghịch. Trịnh thị chuyên quyền ngã
(họ Mạc cướp ngôi, họ Trịnh chuyển quyền.)

#Ghi chú: Phần phả ký trích "Tờ 1,2,3 Phần phả ký - Cung Lục Nguyễn Hữu Tông Gia Phả - Chi thứ 5 Phan  Long Hầu:  Phòng Vị Quốc Công Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào tự Bảng. Phần thượng phả sao chép gia phả chữ hán tự sai tên tự của tổ Nguyễn Biện tự Tiến (ghi thủy  tổ Nguyễn Trãi từ đó bị sai lệch 2 thế hệ.

(Tờ 8)                    PHẢ HỆ
我家本支百世原留甚遠世世功臣名相青史留肪
第一世祖為衙相諱阮爍 似福
 十月十四終 墓在崋閭峝 大皇洲
正配衙相夫人 諱名㭍祥
生下正总以下三人
長男驸馬丁朝諱阮匍
二男諱阮復
三男諱阮匐
Ngã gia bản chi bách thế nguyên lưu thậm viễn thế thế công thần danh tướng thanh sử lưu phương tự Đệ Nhất Thế Tổ Vi Nha Tướng húy  Nguyễn Thước tự Phúc, thập nguyệt thập tứ nhật chung Mộ tại hoa lư động, Đại Hoàng châu.
Chính phối Nha Tướng Phu Nhân húy danh tự thất tường.
Sinh hạ chính tổng dĩ hạ tam nhân
Trưởng nam Phò Mã Đinh Triều húy Nguyễn Bồ
Nhị nam húy Nguyễn Phục
Tam nam húy Nguyễn Bặc.

第二世祖丁朝有公為太宰定國公諱阮匐 
十月十五日終 墓麒麟山 清化外使 大皇洲
正配定國公夫人諱名㭍祥
生下正总以下二人
長男右殿前指揮使 都效瞼諱阮氐
二男諱阮達 自代 (阮峋 - 甜厙)
衙祖阮爍之弟三子
Đệ Nhị Thế Tổ Đinh Triều hữu công vi Thái Tể Định Quốc Công húy Nguyễn Bặc.
Thập nguyệt thập ngũ nhật chung.
Mộ Kỳ Lân sơn Thanh hoa ngoại sứ Đại Hoàng châu.
Chính phối Thái Tể Định Quốc Phu Nhân húy danh tự thất tường.
Sinh hạ chính tổng dĩ hạ nhị nhân.
Trưởng nam Hữu điện tiền Chỉ huy sứ Đô Hiệu Kiểm húy Nguyễn Đê 
Nhị nam húy Nguyễn Đạt, tự Đại, tức Nguyễn Tuân Điềm xá.
" Nha Tướng Nguyễn Thước Chi Đệ Tam Tử".

(Tờ 9)
第三世祖犂朝有公為右親衛 殿前 指揮使 李朝有公為都校檢削侯諱阮氐 即弟
正配都校檢夫人諱名㭍祥
生下正总以下三人
長男和國公諱阮光利生員外郎諱阮義 生兵部尚書諱阮國 生諱阮公 生進士諱阮界
二男左相國諱阮遠
三男太寳諱阮福歷生太寳諱阮揚 生諱阮公 生諱阮龍 阮賢尚書部刑阮詮 (韓詮) 生諱阮會
太宰 定國公阮匐之長子
Đệ Tam Thế Tổ phù Lê Triều hữu công vi Hữu Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ.
Phù Lý Triều hữu công vi Đô Hiệu Kiểm, tước Hầu húy Nguyễn Đê, tức Đệ
Chính phối Đô Hiệu Kiểm Phu Nhân danh tự thất tường.
Sinh hạ chính tổng dĩ hạ tam nhân
Trưởng nam Hoà Quốc Công húy Nguyễn Quang Lợi sinh Viên Ngoại Lang húy Nguyễn Nghĩa, sinh Binh Bộ Thượng Thư Nguyễn Quốc sinh Nguyễn Công sinh Tiến Sĩ Nguyễn Giới.
Nhị nam Tả Tướng Quốc húy Nguyễn Viễn 
Tam nam Thái Bảo húy Nguyễn Phúc Lịch sinh Thái Bảo húy Nguyễn Dương sinh Nguyễn Công sinh Nguyễn Long, Nguyễn Hiền, Thượng thư bộ hình Nguyễn Thuyên tức Hàn Thuyên sinh Nguyễn Hội.
" Thái Tể Định Quốc Công Chi Trưởng Tử".

第四世祖李朝有公為左相國諱阮遠
正配左相國夫人諱名㭍祥
都校檢阮氐之弟二子
Đệ Tứ Thế Tổ Phù Lý Triều Hữu Công Vi Tả Tướng Quốc húy Nguyễn Viễn 
Chính phối Tả Tướng Quốc Phu Nhân danh tự thất tường.
" Đô Hiệu Kiểm Nguyễn Đê Chi đệ nhị Tử".

(Tờ 10)
第五世祖李朝有公為左都督諱阮奉 庚午年終
正配左都督夫人 諱名㭍祥
左相國阮遠之長子
Đệ Ngũ Thế Tổ phù Lý Triều Hữu Công Vi Tả Đô Đốc húy Nguyễn Phụng Canh Ngọ niên chung.
Chính phối Tả Đô Đốc Phu Nhân danh tự thất tường.
" Tả Tướng Quốc Nguyễn Viễn Chi Trưởng Tử".

KỲ THÚY GIỚI DUY CHỦ KÝ TÁI LAI LỊCH BẤT NHẤT NGHI DĨ TRUYỀN NGHI BÁCH

第六世祖陳朝有公為淮道孝嫵大勝王諱阮嫩 稱大勝王 己丑年, 三月㭍祥日終
正配大勝王夫人諱名㭍祥
正配世一淮道孝嫵大勝王夫人諱陳是玩蟾
生下正总以下五人
長男都效瞼諱阮世賜
二男太付諱阮龍
三男諱阮賢
四男左督管君聖杙義慂 諱阮識
五男員外郎 諱阮演
Đệ Lục Thế Tổ Trần Triều Hữu Công Vi Hoài Đạo Hiếu Vũ Đại Thắng Vương húy Nguyễn Nộn tự Đại Thắng Vương. 
Kỷ sửu niên, tam nguyệt thất tường nhật chung. Hoài Do Thần Đình tự, phong Tối Linh Thượng Đẳng Thần.
Chính phối Đại Thắng Vương phu nhân danh tự thất tường.
Chính thất thứ nhất Hoài Đạo Hiếu Vũ Đại Thắng Vương Phu Nhân húy Trần Thị Ngoạn Thiềm.
Sinh hạ chính tổng dĩ hạ ngũ nhân.
Trưởng nam Đô Hiệu Kiểm húy Nguyễn Thế Tứ.
Nhị nam Thái Phó húy Nguyễn Long.
Tam nam húy Nguyễn Hiền.
Tứ nam Tả Đốc Quản Quân Thánh Dực Nghĩa Dũng húy Nguyễn Thức.
Ngũ nam Viên Ngoại Lang húy Nguyễn Diễn.

(Tờ 11)
第七世祖陳朝有公為都效瞼諱阮世賜 
正配都效瞼夫人諱名㭍祥
生下正总以下七人
長男平蠻大相軍 諱阮納和
二男陳朝有公為鎮守府京北 風太傅參夂正事 耿郡公 諱阮耿
淮道孝嫵大勝王阮嫩之長子
Đệ Thất Thế Tổ Phù Trần Triều Hữu Công Vi Đô Hiệu Kiểm húy Nguyễn Thế Tứ
Chính phối Đô Hiệu Kiểm Phu Nhân húy danh tự thất tường 
Sinh hạ chính tổng dĩ hạ thất nhân, 
Trưởng nam Bình Man Đại Tướng Quân húy Nguyễn Nạp Hoà
Nhị nam Trần triều hữu công vi trấn thủ phủ kinh bắc Phong Thái phó tham tri chính sự Cảnh quận công.
"Hoài Đạo Hiếu Vũ Đại Thắng Vương Nguyễn Nộn chi trưởng tử".

第八世祖陳朝有公為 平蠻大相軍 諱阮納和
 丁巳年, 一月二十四日終
正配平蠻大相軍夫人諱名㭍祥
生下正总以下四人
長男右號點 諱阮公律
三人諱名㭍祥 
都效瞼阮世賜之長子
Đệ Bát Thế Tổ Phù Trần Triều Hữu Công Vi Bình Man Đại Tướng Quân húy Nguyễn Nạp  Hoà, đinh tỵ niên, nhất nguyệt nhị thập tứ nhật chung. 
Chính phối Bình Man Đại Tướng Quân Phu Nhân húy danh tự thất tường sanh hạ chính tổng dĩ hạ tứ nhân,
Trưởng nam Hữu Hiệu Điểm húy Nguyễn Công Luật
Tam nhân danh tự thất tường 
" Đô Hiệu Kiểm Nguyễn Thế Tứ Chi Trưởng Tử".

(Tờ 12)
第九世祖陳朝有公為监軍千場 右號點 諱阮公津 戊辰年終
正配右號點夫人諱名㭍祥
生下正总以下三人
長男管軍鐵戧 諱阮策 生阮茏 即应龙
二男管軍鐵匳 諱阮赫
三男兪勤公諱阮明兪
平蠻大相軍阮納和之長子
Đệ Cửu Thế Tổ Trần Triều Hữu Công Vi Giám Quân Thiên Trường, Hữu Hiệu Điểm húy Nguyễn Công Luật, mậu thìn niên chung.
Chính phối Hữu Hiệu Điểm phu nhân húy danh tự thất tường sinh hạ chính tổng dĩ hạ tam nhân
Trưởng tử nam Quản Quân Thiết Sang húy Nguyễn Sách  sinh Nguyễn Phong tức Ứng Long
Nhị tử nam Quản Thiết Liêm húy Nguyễn Hách
Tam tử nam Du Cần Công húy Nguyễn Minh Du
" Bình Man Đại Tướng Quân húy Nguyễn Nạp  Hoà Chi Trưởng Tử".

第十世祖陳朝有公為 管鐵虎 兪勤公 諱阮明兪 庚午年終
正配管鐵虎夫人 諱名㭍祥
生下正总以下三人
長男左號點 諱阮崇
二男管區密院 諱阮書
三男管庄輔導山峒 惠國公阮忭
右號點阮公津之弟三子
Đệ Thập Thế Tổ Phù Trần Triều Hữu Công Vi Quản Thiết Hổ, tước Du Cần Công húy Nguyễn Minh Du, canh ngọ niên chung. 
Chính Phối Quản Thiết Hổ Phu Nhân húy danh tự thất tường, sanh hạ chính tổng dĩ hạ tam nhân 
Trưởng nam Tả Hiệu Điểm húy Nguyễn Sùng
Nhị nam Quản Khu Mật Viện húy Nguyễn Thư
Tam nam Quản Trang Phụ Đạo Sơn Động húy Nguyễn Biện, phong Huệ Quốc Công.
" Hữu Hiệu Điểm húy Nguyễn Công Luật Chi Đệ Tam Tử".

(Tờ 13)
第十一世祖陳朝有公為 管庄輔導山峒 惠國公 諱阮忭 即薦 六月十二日終 墓在天宗山
正配惠國公夫人 諱梅是律 諡慈心 生下正总以下八人
長男左號點 諱阮作 二男管內諱阮佔 三男諱阮貞 四男諱阮體 五男諱阮波 六男諱阮服 
長女諱阮氏河 二女 諱阮氏彷
兪勤公阮明兪之弟三子
Đệ thập nhất thế tổ Trần triều hữu công vi Huệ Quốc Công húy Nguyễn Biện, tự Tiến. 
Lục nguyệt thập nhị nhật chung Mộ tại Thiên Tôn Sơn.
Chính phối Mai Thị Luật, thụy Từ Tâm sinh hạ chính tổng dĩ hạ bát nhân 
Trưởng nam Tả Hiệu Điểm húy Nguyễn Tác, 
Nhị nam Quản Nội húy Nguyễn Chiếm, 
Tam nam húy Nguyễn Trinh, 
Tứ nam húy Nguyễn Thể, 
Ngũ nam húy Nguyễn Ba, 
Lục nam húy Nguyễn Phục, 
Trưởng nữ húy Nguyễn Thị Hà,  
Nhị nữ Nguyễn Thị Phảng. 
" Du Cần Công Nguyễn Minh Du chi đệ tam tử"

第十二世祖管內 諱阮佔 十月二十日終 墓在天宗山
正配管內夫人 諱梅是槑 號妙義 諡慈善 墓在天宗山
生下正总以下八人
長男黎朝昭光侯 諱阮儲 二男諱阮經 三男諱阮榮
四男諱阮敏
長女諱阮是貝 二女諱阮是蚆 三女諱阮是笈 四女諱阮是鍊
惠國公阮忭之弟二子
Đệ thập nhị thế tổ Quản Nội húy Nguyễn Chiếm, thập nguyệt nhị thập  nhật chung Mộ tại Thiên Tôn Sơn. 
Chính phối Mai Thị Mai, hiệu Diệu Nghĩa, thụy Từ Thiện Mộ tại Thiên Tôn Sơn. 
Sinh hạ chính tổng dĩ hạ bát nhân. 
Trưởng nam Chiêu Quang Hầu Nguyễn Trừ (Sử), nhị nam húy Nguyễn Kinh, tam tử húy Nguyễn Vinh, tứ nam húy Nguyễn Mẫn.
Trưởng nữ húy Nguyễn Thị Bối, nhị nữ húy Nguyễn Thị Ba, tam nữ húy Nguyễn Thị Cấp, tứ nữ húy Nguyễn Thị Luyện.
" Huệ Quốc Công Nguyễn Biện chị đệ nhị tử"

(Tờ 14)
第十三世祖為太尉昭光侯封義國公諱阮儲 四月十日終 墓在天宗山
正配義國公夫人 諱梅是洸
正配世一義國公夫人 諱杜是校
正配世二義國公夫人 諱杜是華 生下正总以下十人
長男諱阮美 二男諱阮野 三男諱阮愈 四男諱阮公笋 五男諱阮淋 六男諱阮啉
長女諱阮佳 二女諱阮譽 三女諱阮邊 四女諱阮衍
管內阮佔之長子
Đệ thập tam thế tổ vi Thái Úy Chiêu Quang Hầu, phong Nghĩa Quốc Công húy Nguyễn Trừ, tứ nguyệt thập nhật chung Mộ tại Thiên Tôn Sơn.
Chính phối Mai Thị Quang
Chính phối thứ nhất húy Đỗ Thị Hiệu
Chính phối thứ hai Đỗ Thị Hoa sinh hạ chính tổng dĩ hạ thập nhân 
Trưởng nam Nguyễn Mỹ, 
Nhị nam Nguyễn Dã, 
Tam nam Nguyễn Dũ, 
Tứ nam Nguyên Công Duẩn, 
Ngũ nam Nguyễn Lâm, 
Lục nam Nguyễn Lam.
Trưởng nữ Nguyễn Giai, nhị nữ Nguyễn Dự, tam nữ Nguyễn Biên, tứ nữ Nguyễn Diễn.
" Quản Nội Nguyễn Chiếm chi trưởng tử"

(Tờ 15) 
第十四世祖奉直大夫都校檢事 封太保宏國公諱阮公笋 諡保全 昭光侯之弟四子終七月初十日
棃太祖朝開國功臣 墓在天尊山 
四世祖姊諱枚氏媵封合夫人號慈顏 墓在清化省天尊山 生下七男三女
長男太尉封偵國公諱阮徳忠 諡明義             
弟二男指挥使封繆國公諱阮仁政諡保纯
弟三男探総知為洲郡公諱阮孝義諡常心              
弟四男副國公封為頻郡公諱阮琢諡德慶府君  
弟五男武封為爽國公諱阮鲁    
弟六男鎮殿校尉封松溪侯諱阮有禮諡俍心
弟七男都知為普郡公諱阮伯高諡亮康
長女諱阮氏發 二女諱阮氏台 三女諱阮氏巴
義國公阮儲之弟四子
Đệ thậpTứ thế tổ Phụng trực đại phu Đô hiệu kiểm sự phong Thái bảo Hoành quốc công Húy Nguyễn Công Duẩn thụy Bảo Toàn Chiêu quang hầu chi đệ tứ tử Chung thất nguyệt sơ thập nhật Lê thái tổ triều khai quốc công thần Mộ tại Thiên Tôn sơn
Tứ thế tổ tỷ húy Mai Thị Ánh tặng Hợp phu nhân hiệu Từ Nhan Mộ tại Thanh Hóa tỉnh Thiên Tôn sơn Sinh hạ thất nam tam nữ
Trưởng nam Thái úy Trinh quốc công húy Nguyễn Đức Trung thụy Minh Nghĩa
Đệ nhị nam Chỉ huy sứ phong Mục quốc công húy Nguyễn Nhân Chính thụy Bảo Thuần                
Đệ tam nam Thám tổng tri vi Châu quận công húy Nguyễn Hiếu Nghĩa thụy Thường Tâm
Đệ tứ nam Phó quốc công phong vi Tần quận công húy Nguyễn Trác thụy Đức Khánh phủ quân 
Đệ ngũ nam Vũ úy phong vi Sảng quốc công húy Nguyễn Lỗ                
Đệ lục nam Trấn điện hiệu úy phong Tùng khê hầu húy Nguyễn Hữu Lễ thụy Lương Tâm              
Đệ thất nam Đô tri vi Phổ quận công húy Nguyễn Bá Cao thụy Lượng Khang             
Trưởng nữ húy Nguyễn Thị Phát               
Nhị nữ húy Nguyễn Thị Hai (Thai)               
Tam nữ húy Nguyễn Thị Ba
Nghĩa quốc công Nguyễn Trừ chi đệ tứ tử

(Tờ  17) 第十五世祖西軍左都督㤝忠翊運楊武貞㦤功臣贈封太尉貞國公諱阮德忠諡明義八月初一日終 墓在天尊山
正記諱阮氏弦號淑順夫人五月初七日終 墓在天尊山生下四男九女
長男謹事郎廣休播 諱阮有永贈封恒國郡公
二男諱阮有度 諡明惠 三男諱阮有韶
四男諱阮有護 諡正太 長女宮人 諱阮氏連
二女暄微嘉靖睦莊親渊恭来懿貞慈皇太后
諱阮氏玉 棃朝皇后生棃憲尊皇帝
三女宮人諱阮氏癒 四女宮人諱阮氏琇
五女宮人諱阮氏琰 六女宮人諱阮氏璵
七女宮人諱阮氏墉 八女宮人諱阮氏玖
九女宮人諱阮氏琚 
宏國公阮公笋之長子
Đệ thập ngũ thế tổ Tây quân Tả đô đốc sung trung dực vận Dương vũ trinh ý công thần tặng phong Thái úy Trinh quốc công húy Nguyễn Đức Trung thụy Minh Nghĩa. Bát nguyệt sơ nhất nhật chung Mộ tại Thiên Tôn sơn
Chính phối húy Nguyễn Thị Huyền thụy Thục Thuận phu nhân Ngũ nguyệt sơ thất nhật chung Mộ tại Thiên Tôn sơn Sinh hạ tứ nam cửu nữ
Trưởng nam Cẩn Sự Lang Quảng Hưu Bá húy Nguyễn Hữu Vĩnh, phong Hằng Quốc Quận Công.
Nhị nam húy Nguyễn Hữu Độ, thụy Minh Huệ.
Tam nam húy Nguyễn Hữu Thiều
Tứ nam húy Nguyễn Hữu Hộ, thụy Chính Thái
Trưởng nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Liên
Nhị nữ Huyên vi gia tĩnh mục trang thân uyên cung lai ý trinh từ Hoàng thái hậu Lê triều hoàng hậu sinh Lê hiến tông hoàng đế
Tam nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Dũ
Tứ nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Tú
Ngũ nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Diễm 
Lục nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Dư
Thất nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Dung
Bát nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Cửu
Cửu nữ Cung Nhân húy Nguyễn Thị Cư
" Hoành Quốc Công Nguyễn Công Duẩn chi trưởng tử"

第十五世祖都知為普郡公諱阮伯高諡亮康 正記普郡公夫人號熟容生下二男
長男為知郡公
二男為丁亮子
宏國公阮公笋之第七子
Chính phối Phổ quận công phu nhân hiệu Thục Dung Sinh hạ nhị nam
Trưởng nam vi Tri quận công 
Nhị nam vi Đinh lượng tử
" Hoành Quốc Công Nguyễn Công Duẩn chi đệ thất tử"

(Tờ 18) 
第十六世祖謹事郎廣休伯諱阮有永贈封恒國郡公諡惠迪 八月十九日终 墓在天尊山清化省
正配...女諱阮氏玉 皇后贈封夫人號純潔 四月二十二日終基在天尊山 生下五男
長男駙馬都尉安福侯贈封嘉郡公諱阮知敬馬諡彥貞 配尚寿枚公主 七月十七日終 墓在天尊山
二男弘謙伯諱阮異諡牧貞
三男平福侯諱阮有奕字明達諡正德 正月二十一日終 塟在城山使
四男富和侯諱阮有紀諡恭靖七月二十日終
五男左都督松楊侯諱阮有鐸
諡德敬
太尉貞國公諱阮德忠之長子
Đệ thập lục thế tổ Cẩn sự lang quảng hưu bá húy Nguyễn Hữu Vĩnh tặng phong Hằng quốc quận công thụy Huệ Địch Bát nguyệt thập cửu nhật chung Mộ tại Thiên Tôn sơn Thanh Hoa tỉnh
Chính phối ... nữ húy Nguyễn Thị Ngọc Hoàng hậu tặng phong phu nhân hiệu Thuần Khiết
Tứ nguyệt nhị thập nhị nhật chung Mộ tại Thiên Tôn sơn Sinh hạ ngũ nam
Trưởng nam Phò mã đô úy An phúc hầu tặng phong Gia quận công húy Nguyễn Tri Kính Mã thụy Ngạn Trinh
Phối thượng thọ mai công chúa thất nguyệt thập thất nhật chung Mộ tại Thiên Tôn sơn
Nhị nam Hoằng khiêm bá húy Nguyễn Dực thụy Mục Trinh
Tam nam Bình phúc hầu húy Nguyễn Hữu Dịch tự Minh Đạt thụy Chính Đức Chính nguyệt nhị thập nhất nhật chung Táng tại thành sơn sứ
Tứ nam Phú hòa hầu húy Nguyễn Hữu Kỷ thụy Cung Tĩnh Thất nguyệt nhị thập nhật chung
Ngũ nam Tả đô đốc Tùng dương hầu húy Nguyễn Hữu Đạc thụy Đức Kính
" Thái úy Trinh quốc công Nguyễn Đức Trung chi trưởng tử"

(Tờ 19)
第十七世祖西军左大都督府左大都督松楊侯諱阮有鐸諡德敬
两夫人生下男女三十七人被莫氏犂朝处隐不知何使現存男女七人
正夫人號慈正 四月十六日終
長男衛富侯 二男衛尉锦花侯諱阮有忍
三男翁巴諱阮有巴 四男翁熟諱阮有熟
長女諱阮代理 二女諱阮氏璫配端國公
正夫人 生下翁掌和德主仕 三女諱阮代琳
恒國郡公阮有永之弟五子
Đệ thập thất thế tổ Tây quân tả đô đốc phủ Tả đô đốc Tùng dương hầu húy Nguyễn Hữu Đạc
Thụy Đức Kính Lưỡng phu nhân Sinh nam nữ tam thập thất nhân bị Mạc thị Lê triều sử ẩn bất
Tri hà sứ hiện tồn nam nữ thất nhân
Chính phu nhân hiệu Từ Chính Tứ nguyệt thập lục nhật chung
Trưởng nam Vệ phú hầu 
Nhị nam Vệ úy Cẩm hoa hầu húy Nguyễn Hữu Nhẫn 
Tam nam Ông Ba húy Nguyễn Hữu Ba
Tứ nam Ông Chín húy Nguyễn Hữu Chín 
Trưởng nữ húy Nguyễn Thị Lý
Nhị nữ húy Nguyễn Thị Đang phối Đoan quốc công Chính phu nhân Sinh hạ Ông trưởng hòa đức chúa sĩ
Tam nữ húy Nguyễn Thị Lâm
"Hằng quốc quận công Nguyễn Hữu Vĩnh chi đệ ngũ tử" 

(Tờ 20)
第十八世祖都指挥使司都指挥使衞尉錦花侯諱阮有忍諡福惠 十二月三十日终
正配諱張氏燕號慈光夫人四月初七日终 生下二男
長男翁主德諱阮有玄德
二男掌營朝文侯諱阮有朝文
松陽侯阮有鐸之弟二子
Đệ thập bát thế tổ Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ vệ úy Cẩm hoa hầu húy Nguyễn Hữu Nhẫn thụy Phúc Huệ Thập nhị nguyệt tam thập nhật chung
Chính phối húy Trương Thị Yến thụy Từ Quang phu nhân Tứ nguyệt sơ thất nhật chung Sinh hạ nhị nam
Trưởng nam Ông Chủ Đức húy Nguyễn Hữu Huyền Đức 
Nhị nam Chưởng Dinh Triều văn hầu húy Nguyễn Hữu Triều Văn
"Tùng Dương Hầu Nguyễn Hữu Đạc chi đệ nhị tử".

(Tờ 21)
第十九世祖都指挥使司都指挥使掌營朝文侯諱阮有朝文 丁丑年 五月二十五日終 改塟在安代
正配諱張氏玉號慈廉夫人 十二月十一日終 塟在安代源金连使 生下七二男
長男掌奇都信侯 二男文聀全忠子 三男隊長韜畧侯 四男隊長慎徳侯 五男昭郡公贈封靖國公諱阮有鎰 生下四男 六男隊長翊徳侯 七男該隊俊徳侯
錦花侯阮有忍之弟二子
Đệ thập cửu thế tổ Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ Chưởng dinh Triều văn hầu húy Nguyễn Hữu Triều Văn 
Đinh Sửu niên ngũ nguyệt nhị thập ngũ nhật chung Cải táng tại An Đại
Chính phối húy Trương thị Ngọc thụy Từ Liêm phu nhân Thập nhị nguyệt thập nhất nhật chung Táng tại An đại Nguyên kim liên sứ Sinh hạ thất nam
Trưởng nam Trưởng cơ Đô tín hầu
Nhi nam Văn chức toàn trung tử
Tam nam Đội trưởng thao lược hầu
Tứ nam Đội trưởng Thận đức hầu
Ngũ nam Chiêu quận công Tặng phong Tĩnh quốc công húy Nguyễn Hữu Dật Sinh hạ tứ nam
Lục nam Đội trưởng Dực đức hầu
Thất nam Cai đội Tuấn đức hầu
" Cẩm Hoa Hầu Nguyễn Hữu Nhẫn chi đệ nhị tử".

(Tờ 22)
第二十世祖赞治靖難上秩功臣特進大裋國上将军錦衣衞中军都督府中大都督掌府事 靚順化水步諸節制昭郡公贈封靖國公 諡曰勤節凉武之神諱阮有鎰 甲辰年三月初三日終 基在澫芚 
嘉隆四年封上等尊臣從紀太廟
嘉隆九年封闿國功臣
明命十二年赠封太付靖國公諡宜武
明命十六年為祠祀武廟
正配靖國公正夫人諱宋氏分 號慈行 六月十六日終 生下四男
長男鎮憮豪良侯贈封為郡公諡柔慈諱阮有鎊 生下十一男
二男掌奇忠勝侯 五月二十二日終 塟在澫寧 生下六子见存一人
三男元宰禮郡公諡剛直諱阮有鏡平高綿有功 生下四男二女
四男元輔信郡公諡敏倢㨗諱阮有銃平有紹亂有功 九月初六日終 生下十二男
朝文侯阮有朝文之長子
Đệ nhị thập thế tố Tán trị tĩnh nạn thượng trật công Đặc tiến đại thụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Trung quân đô đốc phủ Trung đại đô đốc Trưởng phủ sự tĩnh thuận hóa thủy bộ Chư tiết chế Chiêu quận công tặng phong Tĩnh quốc công Thụy viết cần tiết lương võ chi thần húy Nguyễn Hữu Dật Giáp Thìn niên tam nguyệt sơ tam nhật chung Táng tại Vạn Xuân
Gia Long tứ niên phong Thượng đẳng tôn thần tòng kỷ Thái miếu
Gia Long cửu niên phong Khai quốc công thần
Minh Mạng thập nhị niên tặng phong Thái phó Tĩnh quốc công thụy Nghi Vũ
Minh Mang thập lục niên vi từ tự Vũ Miếu
Chính phối Tĩnh quốc công chính phu nhân húy Tống Thị Phận hiệu Từ Hạnh Lục nguyệt thập lục nhật chung Sinh hạ tứ nam
Trưởng nam Trấn vũ Hào lương hầu tặng phong Vi quận công thụy Nhu từ húy Nguyễn Hữu Bảng Sinh hạ thập nhất nam
Nhị nam Trưởng cơ Trung thắng hầu Ngũ nguyệt nhị thập nhị nhật chung Táng tại Vạn Ninh Sinh hạ lục tử kiến tồn nhất nhân
Tam nam Nguyên tể Lễ quận công thụy Cương Trực húy Nguyễn Hữu Kính bình cao miên hữu công Sinh hạ tứ nam nhị nữ
Tứ nam Nguyên phụ Tín quận công thụy Mẫn Tiệp húy Nguyễn Hữu Súng bình hữu thiệu loạn hữu công Cửu nguyệt sơ lục nhật chung  Sinh hạ thập nhị nam
" Triều Văn Hầu Nguyễn Hữu Triều Văn chi trưởng tử".

第二十一世祖敦厚功臣特進開府輔國上将军錦衣衞前軍都督府前大都督掌府事鎮憮豪良侯贈封為郡公諡柔慈府君諱阮有鎊 癸巳年七月二十七日終 塟在艸元坤山 改葬在㵢崚使
嘉隆年間十二年癸酉修開國功臣...
正配豪良侯夫人諱宋氏貴娘號慈心夫人 塟在艸山峝
正配次一豪良侯夫人諱阮氏童號媒春 四月二十八日終
塟在盎山废峝 生下公分為十一男
第一房長男為該奇紹政侯諡純絜諱阮有銓 生下正統以下八人
第二房二男為有前該隊長攀龍侯 生下二男
第三房三男為前隊長慶雲侯 生下三男
第四房四男為前記錄灰俊侯諱阮有鎔 生下四男
第五房五男為前隊長美才侯 生下一男
第六房六男為前守城該奇笋(先)德侯生下四男
第七房七男為前隊長纘武侯 生下一男
第八房八男為前隊長坚才候 生下一男
第九房九男為前該隊洪各侯 無嗣
第十房十男為前該隊搛廉勘断識量侯 生下二男
第十一房十一男為前禔領檢校侯 生下一男
靖國公阮有鎰之長子
譜房具有大尊譜明註
Đệ nhị thập nhất thế tổ Đôn hậu công thần Đặc tiến khai phủ phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ tiền quân đô đốc phủ Tiền đại đô đốc Chưởng phủ sự Trấn vũ Hào lương hầu Tặng phong Vi quận công thụy Nhu Từ phủ quân húy Nguyễn Hữu Bảng
Quý Tỵ niên thất nguyệt nhị thập thất nhật chung
Táng tại Thảo nguyên khôn sơn Cải táng tại Lòi lăng sứ
Gia Long niên gián thập nhị niên Quý Dậu Tu Khai quốc công thần ...
Chính phối Hào lương hầu phu nhân húy Tống Thị Quý Nương hiệu Từ Tâm phu nhân Táng tại Thảo Sơn Động
Chính phối thứ nhứt Hào lương hầu phu nhân húy Nguyễn Thị Đồng hiệu Môi Xuân Tứ nguyệt nhị thập bát nhật chung
Táng tại Áng Sơn Phế Động 
Sinh hạ công phận vi thập nhất nam
Đệ nhất phòng Trưởng nam vi Cai kỳ (cơ) Thiệu chính hầu thụy Thuần Khiết húy Nguyễn Hữu Thuyên Sinh hạ chính thống dĩ hạ bát nhân
Đệ nhị phòng Nhị nam vi Tiền cai đội trưởng Phan long hầu Sinh hạ nhị nam
Đệ tam phòng Tam nam vi Tiền đội trưởng Khánh vân hầu Sinh hạ tam nam
Đệ tứ phòng Tứ nam vi Tiền ký lục Khôi tuấn hầu húy Nguyễn Hữu Dung Sinh hạ tứ nam
Đệ ngũ phòng Ngũ nam vi Tiền đội trưởng Mỹ tài hầu Sinh hạ nhất nam
Đệ lục phòng Lục nam vi Tiền thủ thành Cai cơ Duẩn (Tiên) đức hầu Sinh hạ tứ nam
Đệ thất phòng Thất nam vi Tiền đội trưởng Toản vũ hầu Sinh hạ nhất nam
Đệ bát phòng Bát nam vi Tiền đội trưởng Kiên tài hầu Sinh hạ nhất nam
Đệ cửu phòng Cửu nam vi Tiền cai đội Hồng các hầu Vô tự
Đệ thập phòng Thập nam vi Tiền cai đội kiêm khám đoán Thức lượng hầu Sinh hạ nhị nam
Đệ thập nhất phòng Thập nhất nam vi Tiền đề lĩnh Kiểm hiệu hầu Sinh hạ nhất nam
Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật chi trưởng tử
Phổ phòng cụ hữu đại tôn phổ minh chú

第二十二世祖阮朝有公為該奇紹政侯諱阮有銓諡純絜 七月初五日終 塟在艸元坤山
正配紹政侯夫人諱名㭍祥
生下正統以下八人见存一人
長男諱阮有鎛
鎮憮豪良侯阮有鎊之長子
Đệ nhị thập nhị thế tổ Nguyễn triều hữu công vi Cai kỳ Thiệu chính hầu húy Nguyễn Hữu Thuyên thụy Thuần Khiết Thất nguyệt sơ ngũ nhật chung Táng tại Thảo Nguyên Khôn sơn
Chính phối Thiệu chính hầu phu nhân húy danh tự thất tường Sinh hạ chính thống dĩ hạ bát nhân kiến tồn nhất nhân
Trưởng tử húy Nguyễn Hữu Bác 
Trấn vũ Hào lương hầu Nguyễn Hữu Bảng chi trưởng tử
.........
#Nguyễn Hữu Thịnh phụng tu cát nhật tháng 1 Năm Tự Đức thứ 12.

#Nguyễn Hữu Độ phụng tu 7 tháng 1 năm Tự Đức thứ 11.

#Cung lục lần 1 ông là tỉnh hạt hội viên Nguyễn Hữu Toàn phụng tu Nguyễn Hữu Tộc Tôn Đồ Gia Phổ. 15/9 năm Bảo Đại thứ 16.

#Nguyễn Hữu Thắng  phụng tu Nguyễn Hữu Thị Tộc Phả năm 2005.

#Cung lục lần 2. Nguyễn Hữu Toản năm 2008

#Cung lục lần 3. Thiếu úy Nguyễn Hữu Bảo Nam - Phòng Quân Báo, Bộ Tham Mưu, Quân Khu 7, Bộ Quốc Phòng Việt Nam Kỷ sửu niên, cửu nguyệt, thập ngũ nhật. 

#Cung lục lần 4. Nội Nguyễn Hữu Ứng, Nguyễn Hữu Am, chú Nguyễn Hữu Tri năm 2010.
...................................
Ninh Bình tỉnh Gia Viễn huyện Gia Hưng xã Hoa Tiên thôn Động Hoa Lư xứ.

#Photograp: bìa Gia Phả 

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

Lịch sử ngày Giỗ Tổ Hùng Vương



Cập nhật: Thứ năm, 7/4/2011 | 9:29:37 AM
“Dù ai đi ngược về xuôi
 Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
Câu ca dao đậm đà tình nghĩa ấy đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng - nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.

Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương, là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc.

Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương trên Đền Thượng.

Từ xa xưa lễ hội Đền Hùng đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt Nam. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “...Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi...”.

Như vậy, có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày 10 tháng 3 âm lịch. Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.

Hình ảnh Lễ dâng hương Đền Hùng vào năm 1904. Ảnh: Internet.

Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày mùng Mười tháng Ba âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc lễ, Quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”. Kể từ đây, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp.

Sau cách mạng tháng Tám (1945) Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều về thăm viếng. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn”, ngay sau cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ Tịch nước số 22/SL - CTN ngày 18 tháng 2 năm 1946 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương - hướng về cội nguồn dân tộc.

Hình ảnh Lễ dâng hương Đền Hùng vào năm 1905. Ảnh: Internet.

Trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Tuất (1946) - năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước đã dâng 1 tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và 1 thanh gươm quý nhằm cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 2 lần về thăm Đền Hùng (19/9/1954 và 19/8/1962). Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.“

Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Ngành Văn hóa thông tin - thể thao phối hợp với các ngành chức năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ 1/3 đến 10/3 âm lịch).

Tại Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước, trong đó có nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, cụ thể như sau:

- “Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”; Bộ Văn hoá - Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

- “Năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5”; Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

- “Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.

Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn - QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc.

Trong ngày này, nhân dân cả nước có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước.

Theo bqllang.gov.vn

TM/ HỘI ĐỒNG DÒNG TỘC NGUYỄN BẶC TOÀN QUỐC

Trong suốt chặng đường xây dựng Cổng Thông Tin Điện Tử. T/M Các Ban thuộc HĐDT NGUYỄN BẶC TQ. Xin cảm ơn các Quý vị là Nội Tộc Tông Thân trong và ngoài nước nói chung đã luôn mạnh dạn cống hiến rất nhiều những đóng góp vật chất, xây dựng ý kiến nhằm: Tôn Vinh Dòng Họ Nguyễn Đại Tông, Chắp Nối Gia Phổ, Trùng Tu Lăng Mộ và Từ Đường..., để cùng nhau tề tựu tại Nhà Thờ Đức Thái Thủy Tổ Định Quốc Công Nguyễn Bặc "Khởi Nguyên Đường" những ngày 14 - 15 tháng 10 Âm Lịch hàng năm để trị ân với Tổ Tiên.
Một lần nữa T/M Các Ban thuộc HĐDT NGUYỄN BẶC TQ xin gửi tất cả những lời chào và chúc tốt đẹp nhất đến các thành viên hiện nay đang sống và làm việc tại: Việt nam, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Úc, Canada, Latvia, Balan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Brazin, Trung Quốc, Hungari, Rumani, Ý, Na uy, Lào, Thụy Sỹ, Thái Lan, Singapore, cambodia,...vv, đã ghé thăm và có những ý kiến đóng góp rất thiết thực trên trang thông tin điện tử "Khoinguyenduong, thongtintocnguyen, honguyenvietnam, nguyenhuutocpha, khoinghiaduong, phahe" trong suốt thời gian qua. Mong các quý vị, các quý thàn viên trong Họ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ và đóng góp. Xin chân thành cảm ơn!

- Mọi ý kiến đóng góp nhằm xây dựng việc chắp nối Gia Phổ Dòng Tộc Định Quốc Công Nguyễn Bặc xin liên hệ trực tiếp các Thành Viên Thường Trực Hội Đồng Dòng Tộc Nguyễn Bặc TQ - Ban Nghiên Cứu và Thực Hành Gia Phổ:

1. NGUYỄN PHÚC HẬU - PCT HĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TBNC&THGP
ĐC: 303, Nhà H3A, KTT Bộ Công Nghiệp Nhẹ, đường Lê Gia Định, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội - Điện thoại: 0903 215 255

2. NGUYỄN CHƯƠNG THÂU - TVHĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TVBNC&THGP
ĐC: 7/180 phố Thái Hà, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội - 043 8534 334
3. NGUYỄN THÀNH CÔNG - PCT HĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TVBNC&THGP + TVBKT
ĐC: đội 5, xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định - 0943 056 922
4. NGUYỄN BẾ THÀNH - TVHĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TVBNC&THGP
ĐC: D12, phòng 402 KTT Quân Đội Nam Đồng, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội - 09032 262 457

5. NGUYỄN HUY HIỆP - TVHĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TVBNC&THGP
ĐC: thôn 9, xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh - 0934 404 218

6. NGUYỄN NGỌC TUYẾN - TVHĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TVBNC&THGP
ĐC: xóm 14, xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định - chưa có

7. NGUYỄN HỮU MẠC, TỨC XUÂN THOẠI - TVHĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TVBNC&THGP
ĐC: đường 7, thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa - 0166 579 8983

8. NGUYỄN HỮU NAM, TỨC BẢO NAM - TVHĐDT NGUYỄN BẶC TQ + TVTTBNC&THGP + BTT&ĐỐI NGOẠI
ĐC: 1A Đồng Khởi, phường 4, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh Tel: 0922 366 268
Xin tiếp nhận ý kiến đóng góp qua Email: khoinguyenduong@gmail.com

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU NHẤT