Duy Việt Nam quốc, Đồng nai tỉnh, Đồng phú xã, Tân tiến thôn, 32/8
Tuế thứ: ... Bính ngọ Niên, chính Nguyệt, cát Nhật. Duệ tôn NGUYỄN HỮU BẢO NAM, đồng gia đẳng, Cẩn dĩ khư vật chi nghi.
kính thỉnh:
*Chư Vị Đông Trù Tư Mệnh, Táo Phủ Thần Quân, Môn gia Hộ Uý, đồng Chư vị đẳng thần...
*Liệt vị gia tiên
Thái thủy tổ Thái tể Định quốc công húy NGUYỄN BẶC, thập Nguyệt, thập ngũ nhật, táng gò Cá chép, Đại hoàng xã, Ninh bình tỉnh.
Thượng tổ Phụng trực đại phu Đô hiệu kiểm sự phong Thái bảo Hoành quốc công Húy Nguyễn Công Duẩn thụy Bảo Toàn. thất Nguyệt thập nhật chung, táng Thiên tôn sơn.
Thượng tổ tỷ húy Mai Thị Ánh tặng Hợp phu nhân hiệu Từ Nhan Mộ tại Thanh Hóa tỉnh Thiên Tôn sơn.
Hậu tổ Tán trị tĩnh nạn thượng trật công Đặc tiến đại thụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Trung quân đô đốc phủ Trung đại đô đốc Trưởng phủ sự tĩnh thuận hóa thủy bộ Chư tiết chế Chiêu quận công tặng phong Tĩnh quốc công Thụy Nghi vũ húy Nguyễn Hữu Dật
Tĩnh quốc công chính phu nhân húy Tống Thị Phận hiệu Từ Hạnh Lục nguyệt thập lục nhật chung đồng hiệp kỵ Giáp Thìn niên tam nguyệt sơ tam nhật chung Táng tại Vạn Xuân
1. Cao cao Tổ khảo húy Quản trang NGUYỄN HỮU CHIÊM,
2. Cao cao Tổ tỷ húy TRẦN THỊ CÚI đồng hiệp kỵ thập Nguyệt sơ lục Nhật chung, táng tại Gia hưng xã, Ninh bình tỉnh.
3. Thúc tổ húy NGUYỄN HỮU HẰNG
4. Tổ cô húy NGUYỄN THỊ QUẬN
5. Tằng tổ khảo Trưởng cai NGUYỄN HỮU NHU,
Tằng tổ tỷ húy QUÁCH THỊ TRẤN
Tằng tổ tỷ thứ nhứt húy LÊ THỊ HỢP
Tằng tổ tỷ thứ nhị húy TRẦN THỊ SÚNG Hiệp táng tại Đầm sen minh long thôn, Gia lâm xã, Ninh bình tỉnh.
6. Bà Cô húy NGUYỄN HỮU THỊ NHƠ
táng Đồng chăn, Liên minh thôn, Gia lâm xã, Ninh bình tỉnh.
7. Hiển Tổ khảo húy NGUYỄN HỮU NHẪN, chính Nguyệt cát nhật (2), táng Thái dũng, Tân tiến thôn, Đồng phú xã, Đồng nai tỉnh
Hiển Tổ tỷ húy BÙI THỊ SẮC, thất Nguyệt thập thất nhật chung, táng Đầm sen minh long thôn, Gia lâm xã, Ninh bình tỉnh.
8. Hiển khảo húy NGUYỄN HỮU TOẢN tự HỮU TOÀN, tứ Nguyệt tam thập nhật chung, Táng tại Thái dũng, Tân tiến thôn, Đồng phú xã, Đồng nai tỉnh
9. Bào đệ Thượng tá Đạo đội trưởng NGUYỄN HỮU MINH CHÂU tự Minh Châu, nhị Nguyệt thập nhất nhật táng.
Táng tại Thái dũng, Tân tiến thôn, Đồng phú xã, Đồng nai tỉnh
đồng tộc đẳng. Cẩn dĩ bàn soạn, nhang đăng thanh thủy, kim ngân, hương trà quả phẩm phù lưu tửu nhục, tư thành, cụ soạn chi nghi...,
Lễ thiểu Tâm thành,
Tiếp thỉnh: thượng gia tiên liệt vị, hạ bá thúc huynh đệ, như tồn như sinh thỉnh lai chiếu. Kính dĩ Bản xứ long mạch thổ địa chi thần, Bản gia Ngũ tự phúc thần đồng cách hưởng”.
Tuế cánh điệt tự, Kim dĩ thu thiên, nhật phùng Nguyên Đán, cẩn cụ phỉ nghi, bái cáo ngưỡng vọng, liệt vị gia tiên, thượng kỳ giám chỉ.
Thượng hưởng.
Cẩn cáo”.
Tả Quân Chi Ấn là một trong 5 ấn vua Gia Long cho đúc để ban tặng 5 vị chưởng quân đứng đầu ngũ quân thời bấy giờ là Tiền quân – Tả quân – Hữu quân – Trung quân – Hậu quân. Đây là chiếc duy nhất trong số này còn được lưu giữ.
Được lưu giữ tại Bảo tàng TP HCM, ấn đồng “Tả Quân Chi Ấn” là một hiện vật gắn với Tả quân Lê Văn Duyệt, một nhân vật có vai trò quan trọng trong lịch sử của Sài Gòn và Nam Bộ. Ấn được đúc bằng đồng, cao 7,8 cm, diện tích mặt ấn 9,25 cm x 9,25 cm, nặng 1,92 kg. Mặt trên ấn phía phải khắc chữ “Nhâm Tuất trọng xuân cát nhật giám tạo” (Đúc ngày tốt, tháng 2 năm Nhâm Tuất).
Ngược dòng lịch sử, Tả quân Lê Văn Duyệt (1763-1832) là một nhà chính trị, quân sự lớn thời Nguyễn. Ông là một trong các chỉ huy chính của quân đội chúa Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn. Khi chiến tranh kết thúc và nhà Nguyễn được thành lập, ông trở thành một đại thần, phục vụ hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Trong những năm 1813-1816 và 1820-1832, ông là Tổng trấn thành Gia định (Sài Gòn – TP HCM ngày nay).
Chiếc ấn đồng vua ban cho ông được tìm thấy xã Hương Vinh, huyện Hương Trà (nay là TX Hương Trà), tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 1981.
Với những giá trị lịch sử to lớn, vào tháng 10/2017, UBND TP.HCM đã đề xuất công nhận Tả Quân Chi Ấn là Bảo vật quốc gia.
#taquanlevanduyet #levanduyet #SaigonHistory
Từ: Trang Huế Cổ Phong
Nhận được lời mời của hội đồng gia Tộc chi họ Dương Đình - Lạt Sơn, thành phố Phủ Lý, Hà Nam ( gốc Tổ Họ Nguyễn).
Tổ chức lễ giỗ tổ và kỷ niệm 26 năm khánh thành từ đường chi họ Dương Đình - Lạt Sơn ( 1995-2021). Hôm nay ngày 11/04/2021, tức ngày 30/02 năm Tân Sửu. Đại diện hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc, và ban quản lý di tích lịch sử văn hoá quốc gia “ Nhà Thờ và Mộ Ngài Nguyễn Bặc” tại thôn Vĩnh Ninh, xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình, về dự.
Trong không khí ấm tình dòng Tộc, cùng chung cội nguồn, anh em tay bắt, mặt mừng. Dẫu cho vật đổi sao dời, biến cố thăng trầm của lịch sử, dẫu có phải mai danh ẩn tích, sang tên, đổi họ. Nhưng bằng mọi các các cụ vẫn ghi chép gia phả, truyền dạy, giáo huấn cho con cháu các thế hệ tìm về nguồn cội, gốc rễ.
Xin được gửi đến toàn thể bà con thân tộc Chúc Văn tế Tổ của chi Họ Dương Đình - Lạt Sơn , Phủ Lý, Hà Nam, và một số hình ảnh của buổi lễ. VĂN TẾ - GIỖ TỔ
Ngày 28 tháng 2 năm - Tân Sửu
Việt Nam -Quốc
Hà Nam -Tỉnh
Phủ Lý - Thành phố
Lê Hồng Phong - Phường
Lạt Sơn cõi linh thiêng bản địa
Trống...chiêng
Nơi đây có...
Núi Hoàng Liên 99 ngọn lô nhô
Dòng sông Ngân ngàn thu sóng vỗ
Một vùng Tổ đã khởi sinh
Vạn thuở cháu con nối nghiệp
Nhà nhà sung túc - lớp lớp dựng xây
Nhờ công ơn bao đời Tổ Tiên tạo dựng.
Tùng...tùng....chiêng
Kính lạy Anh linh Đức Tổ Nguyễn An Tính !
Kính lạy các Liệt vị Tiên Linh !
Chúng con là hậu duệ của Người xin kính cáo :
Tùng.... chiêng
Xét rằng :
Có trời đất sinh ra vạn vật
Con người ta từ vạn vật sinh ra đều có Tổ có Tông.
Giọt nước kia triệu khối cũng có nguồn ,có ngọn
Muôn lá,ngàn cành đều từ gốc rễ sinh ra.
Nghìn suối,trăm sông cũng khởi từ một nguồn
Chúng ta sinh ra đều cùng chung một Tổ.
Ngày hôm nay 28 tháng 2 nhân ngày Húy nhật
Già trẻ gái trai,con cháu nội ngoại xa gần từ khắp mọi miễn đã tề tựu về đây với tất cả tấm lòng thành ,nhờ khói hương kính dâng lên Tiên Tổ !
Tùng ...tùng ,chiêng...chiêng../..tùng....chiêng
Nhớ khi xưa:
Một thời loạn lạc Trịnh Nguyễn phân tranh. Trịnh Kiểm ,Trịnh Tùng, Trịnh Sâm luôn tìm cách diệt cho hết cháu con dòng họ Nguyễn.
Khắp mọi nơi cơ cực lầm than.
Kể lưu Đông Hải, người chốn Tây Lâm
Tổ đã ôm một mối bất bình,
Mong mưu tính một phen sống mái.
Vì nước sông pha,vì nhà gây dựng.
Tùng...chiêng...
Nhưng than ôi!
Chí chẳng thành,công chẳng toại.
Thôi thì đành yên phận- Cho qua buổi loạn ly..
Chẳng vẹn đường " Trung" thì giành lấy "Hiếu "
Tránh mặt Voi để bảo vệ Giống nòi.
Tùng ...tùng.
Tổ cùng Cha từ Thanh Hóa- Gia Miêu
Vượt qua bao núi đèo treo neo hiểm trở.
Tổ cùng Cha tìm ra nơi ở
Đã dừng chân tại đất Do Nha.
Tổ cùng Cha gây dựng nên nếp nhà,
Cuốc bẫm ,cày sâu tạo nên cơ nghiệp...
Trống
Là con cả trong nhà-Tổ quyết tâm bước tiếp
Quyết tìm ra đất mới để mưu sinh.
Với tầm nhìn xa ,trông rộng ,anh minh
Tổ đã chọn Lạt Sơn làm nơi khởi nghiệp.
Nơi đây có núi ,sông trùng điệp,
Nơi khởi nguồn sự nghiệp là đây.
Chẳng quản chi khó nhọc đêm ngày
Đất sú vẹt nay trở nên màu mỡ.
Đất sỏi khô cằn đã cho sắn ,cho ngô.
Vận khó chuyển thành Hưng
Nền móng vững cơ ngơi to lớn
Gây dựng Gia Thanh ,
Cơ đen đổi ra Vận tốt
Bĩ cực biến Thái Lai
Dạy rắn con cháu:
Không được quên dù ở nơi đâu
Luôn phải biết nhớ về Nguồn Cội
Chữ Nghĩa Nhân phải đội lên đầu
Nhớ lấy câu "Bí phải thương Bầu -
" Một con ngựa đau - cả tàu bỏ cỏ"
Mang trong mình một dòng máu đỏ
Mỗi bước đường" Chị ng̃a - Em nâng "
Cây có gốc phải tìm về Nguồn Cội
Thủy Tổ nhà mình là Nguyễn Bặc
Định Quốc Công.
Tùng...tùng Chiêng...chiêng / tg ...ch..
Thấm thoát thoi đưa đã gần 300 năm
Kể từ ngày Tổ dựng xây cơ nghiệp
Cuộc đời này đã trải qua bao thăng trầm ,biến cố. Lúc thịnh ,lúc suy...
Loạn lạc, chiến tranh làm cho cháu con phải tìm nơi ly tán. Kẻ Bắc ,người Nam xa cách tha hương.
Đảng và Nhà nước hơn chục năm gần đây rất quan tâm văn hóa Gia phả (dòng họ, tộc" nói riêng, và chú trọng đặc biệt tới Lịch sử nói chung. Hưởng ứng việc bảo vệ gìn giữ văn hóa dòng họ, tộc thì rất nhiều các họ, tộc điển hình như Đinh - Lê - Trần - Trịnh - Phạm - Lưu - Đoàn - Bùi - Nguyễn, ...vv khi chúng ta tiếp cận những cuốn Gia phổ đặc biệt bằng chữ hán - nôm, hầu hết đều gặp không ít khó khăn do đứt gãy văn hoá chữ Hán - Nôm và tài liệu sử - phả cũng như các tài liệu sử ký, mộc bản, hay các thư tịch cổ liên quan vv...cũng như cách trình bày xây dựng gia phả Việt Nam truyền thống.
Tên người sống gọi là danh, tên người chết gọi là húy. Như người ta nói kiêng tên húy, không dám gọi đúng tên mà gọi chạnh đi vậy ngay khi chúng ta phiên âm sẽ bắt gặp 2 chữ “QUÝ CÔNG" ngay trước tên HÚY". Ví dụ: 阮貴公諱匐
Nguyễn quý công, húy Bặc
(Thái thủy tổ của chúng ta "Triều Đinh Thái tể - Định quốc công Nguyễn Bặc".
Bà con họ NGUYỄN chúng ta hãy cẩn trọng và chú ý phần này vì rất dễ lầm tưởng là tên HÚY hoặc tên RIÊNG của Tổ tiên, vì thực tế không ít người lại ngộ nhận luôn chữ QUÝ là Tên đệm của dòng họ NGUYỄN. Bởi thực tế có những truyền miệng nghe mà cười ra nước mắt rằng như có người tính thích khoe mẽ còn nói to rằng "CỤ TỔ nhà tôi ngày xưa làm quan to lắm, là NGUYỄN QUÝ CÔNG cơ đấy”. Chưa hết lại thêm một người lớn tuổi hơn thêm câu nói một cách đầy hãnh diện "Các cụ nhà tôi đều làm to cả, cụ nào cũng làm tới chức QUÝ CÔNG”. Thực ra rất nguy hiểm vì nó làm lệch đường ray gây ảnh hưởng đến Lịch sử/ phả, văn hóa và dòng họ, tộc NGUYỄN nhà mình thiếu chính xác, không đồng nhất gây tranh cãi, làm nhiễu thông tin cho con cháu hiểu cặn kẽ về Tổ tiên của mình.
貴公: QUÝ CÔNG đơn thuần dùng chung cho một cụ (ÔNG). Trong Gia phả bà con hay thấy ở phần mở đầu để dẫn nhập Tên huý, Tên tự, Tên thuỵ của cụ Ông đã khuất.
Ví dụ: 阮有貴公 諱鎰 諡曰勤節凉武之神
NGUYỄN HỮU QUÝ CÔNG HÚY DẬT THỤY VIẾT CẦN TIẾT LƯƠNG VŨ CHI THẦN
* Nghĩa: 𝑄𝑢𝑦́ 𝑜̂𝑛𝑔 ℎ𝑜̣ Nguyễn Hữu
- 𝑡𝑒̂𝑛 ℎ𝑢𝑦́: Dật
- 𝑡𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑢𝑦̣: Viết cần tiết Lương vũ chi thần
- tên tặng phong là Tĩnh quốc công
Nhà con Nguyễn Hữu Bảo Nam phân 12 phòng thuộc trực hệ ngài Vũ quận công, Hào lương hầu Nguyễn Hữu Hào tự Bảng, thụy Nhu từ và Nguyễn Hữu Thắng phân 4 phòng thuộc trực hệ ngài Nguyên tể Lễ quận công, Vĩnh an hầu Nguyễn Hữu Cảnh, húy Kính, tự Thành, thụy Cương trực cũng không ngoại lệ đến thời Minh mệnh Gia phả bị thất lạc, anh em ly tán, nhà đất bị cướp phá (Phả ký sau khôi phục truyền lại ghi " Binh hỏa chi dư, hiện tồn 5-6 người, ta là con cháu ngài Tĩnh quốc công chi hậu").
Xưa cuốn đầu vào thời Minh mệnh chỉ ghi được từ Hậu tổ Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật trở xuống nhờ được truyền miệng bậc cao niên trong họ, và cho biết thêm cao hơn nữa ta còn là hậu duệ của Thái sư Triều lê thời Tự đức con cháu đời sau được tập ấm vì có công phò Thế tổ và bảo vệ Quốc mẫu ở Quảng trị sau đó nhận lệnh rước bà trở lại Phú xuân. Dòng họ được Thế tổ tin dùng và ban thưởng hậu hĩnh, ngoài việc tổ tiên Thế tổ ban được tùng tự Thái miếu ngài còn ban tước vị, con giao con cháu hưởng chức đội trưởng truyền đời trông nom trấn thủ phủ thờ tổ tiên nên có điều kiện hơn, mong muốn biết rõ Thượng tổ nhà ta là ai? Công trạng ra sao?
Không hiểu cụ thể thế nào mà cả 2 Tộc đều ghi chính xác được tất cả Tổ Biện tự 薦: TIẾN ghi ra 廌: TRÃI. Do tổ TIẾN cũng bị thất truyền danh tính rơi vào tình trạng thời gian xa cách, hơn nữa các cụ xa đời.
Do đó nhà cháu phiên âm chữ Hán tự bị sai, viết vào Gia phả sai, tiếp tục không ngừng ở đó, sau cụ Nguyễn Hữu Chỉnh, ... thời Minh mệnh, Nguyễn Hữu Thịnh phụng tu cát nhật tháng 1 Năm Tự Đức thứ 12, ngài Vĩnh quốc công Nguyễn Hữu Độ phụng tu 7 tháng 1 năm Tự Đức thứ 11, Cung lục lần 1 ông là tỉnh hạt hội viên Nguyễn Hữu Toàn phụng tu Nguyễn Hữu Tộc Tôn Đồ Gia Phổ. 15/9 năm Bảo Đại thứ 16, và gần đây nhất thập niên 90 lại có bà cô Nguyễn Ngọc Hiền ( Nguyễn Ngọc Như Hiên), năm 2010 tiếp tục Nội Nguyễn Hữu Ứng ( Sinh) nhà con viết ra chữ quốc ngữ. Do cung lục và phiên âm sai nên lây truyền có hệ thống, gây sự nhầm tưởng lớn về Tên húy và Tiểu sử của tổ tiên nhà mình.
Nhiều thế hệ, thậm chí tới thế kỉ XXI nhiều bà con trong họ đã ngộ nhận tổ tiên mình là TRÃI, và nhiều Tộc khác khuyết phả không tiện nói ra vì giữ thể diện ( Không dám chấp nhận và nhìn thẳng, nói thật khách quan như chúng ta hiện nay) cũng xin khảo cứu và cũng dẫm vào vết xe đổ này, rồi lấy thông tin đó để đi chấp nối Gia phả ở các cửa họ khác. Và tất nhiên, rất nhiều chi, tộc đã nhận nhau anh em, vì đều có chung cụ tổ là TRÃI. Nhưng tới năm 2010 họ dựa vào nhiều Gia phả chính thống có thời gian xa hơn, có sắc ấn vua ban, các mộc bản và Công nghệ thông tin bùng nổ đã tiếp cận một số tài liệu và phổ tiền biên đã kịp thời chỉnh lý cho tới nay đã hoàn thiện 95% Gia phả trực hệ của mình.
Cũng là 季公: 𝗤𝘂𝘆́ 𝗖𝗼̂𝗻𝗴, nhưng nó lạ lắm vì QUÝ này chỉ người con trai Út trong gia đình. 2 thuật ngữ Quý Công cùng sử dụng trong 1 bộ Gia phả, để mọi người có cái nhìn khách quan về vấn đề này ngày xưa lối viết Gia phả và Thần vị, ...
Vi dụ: 1. 孟公: Mạnh Công
Thường viết con trai trưởng
(Cũng có dòng tộc, họ lại gọi dòng trưởng là “Bá“),
Hội đồng Dòng tộc Nguyễn Bặc Toàn quốc là tổ chức đại diện cho con cháu dòng tộc Nguyễn Bặc trên cả nước, có trụ sở tại Nhà thờ Tổ "Khởi Nguyên Đường" ở xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, nơi thờ tự Thái Tể Triều Đinh - Định Quốc Công Nguyễn Bặc.
Hội đồng chịu trách nhiệm tổ chức các lễ giỗ (14-15/10 âm lịch) và các hoạt động văn hóa, tâm linh, bảo tồn di tích, kết nối dòng tộc trên khắp mọi miền, đặc biệt là các đại diện ở miền Nam như ông Nguyễn Hữu Thọ từ Bà Rịa Vũng Tàu.
Mục đích và Hoạt động chính
* Quản lý Di tích: Chịu trách nhiệm trông coi và bảo vệ Khu nhà thờ và Mộ Nguyễn Bặc, một di tích lịch sử quan trọng.
* Tổ chức Lễ hội: Hàng năm tổ chức lễ giỗ Đức Thái Thủy Tổ Nguyễn Bặc vào ngày 14-15/10 Âm lịch,.
* Kết nối Dòng tộc: Thúc đẩy sự đoàn kết và kết nối các chi nhánh trong dòng họ trên cả nước.
* Phát triển Dòng họ: Xây dựng kế hoạch phát triển, huy động nguồn lực và mở rộng các hoạt động thờ cúng.
* Địa chỉ: Nhà Thờ Tổ “Khởi Nguyên Đường”, Thôn Vĩnh Ninh – Xã Gia Phương – Huyện Gia Viễn – Tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.
Vai trò trong Dòng tộc
Ngài Nguyễn Bặc được suy tôn là Thái Thủy Tổ của Dòng Tộc Nguyễn Đại Tông, tổ tiên của dòng họ Nguyễn chính thống tại Việt Nam, gắn liền với lịch sử triều Đinh.
Hoạt động gần đây:
* Vào tháng 2/2024, Hội đồng đã tổ chức cuộc họp tổng kết 12 năm và bàn kế hoạch tương lai, có sự tham gia của đại diện dòng tộc ở miền Nam.
* Đã có các ý kiến thảo luận về việc quy hoạch khu lăng mộ, mở rộng di tích và xây dựng các nhà thờ vọng tại các vùng miền.
STAI
Đảng và Nhà nước hơn chục năm gần đây rất quan tâm văn hóa Gia phả (dòng họ, tộc" nói riêng, và chú trọng đặc biệt tới Lịch sử nói chung. Hưởng ứng việc bảo vệ gìn giữ văn hóa dòng họ, tộc thì rất nhiều các họ, tộc điển hình như Đinh - Lê - Lý - Trần - Trịnh - Phạm - Lưu - Đoàn - Bùi - Nguyễn, ...vv khi chúng ta tiếp cận những cuốn Gia phổ đặc biệt bằng chữ hán - nôm, hầu hết đều gặp không ít khó khăn do đứt gãy văn hoá chữ Hán - Nôm và tài liệu sử - phả cũng như các tài liệu sử ký, mộc bản, hay các thư tịch cổ liên quan vv...cũng như cách trình bày xây dựng gia phả Việt Nam truyền thống.
Tên người sống gọi là danh, tên người chết gọi là húy. Như người ta nói kiêng tên húy, không dám gọi đúng tên mà gọi chạnh đi vậy ngay khi chúng ta phiên âm sẽ bắt gặp 2 chữ “QUÝ CÔNG" ngay trước tên HÚY". Ví dụ: 阮貴公諱匐
Nguyễn quý công, húy Bặc
(Thái thủy tổ của chúng ta "Triều Đinh Thái tể - Định quốc công Nguyễn Bặc".
Bà con họ NGUYỄN chúng ta hãy cẩn trọng và chú ý phần này vì rất dễ lầm tưởng là tên HÚY hoặc tên RIÊNG của Tổ tiên, vì thực tế không ít người lại ngộ nhận luôn chữ QUÝ là Tên đệm của dòng họ NGUYỄN. Bởi thực tế có những truyền miệng nghe mà cười ra nước mắt rằng như có người tính thích khoe mẽ còn nói to rằng "CỤ TỔ nhà tôi ngày xưa làm quan to lắm, là NGUYỄN QUÝ CÔNG cơ đấy”. Chưa hết lại thêm một người lớn tuổi hơn thêm câu nói một cách đầy hãnh diện "Các cụ nhà tôi đều làm to cả, cụ nào cũng làm tới chức QUÝ CÔNG”. Thực ra rất nguy hiểm vì nó làm lệch đường ray gây ảnh hưởng đến Lịch sử/ phả, văn hóa và dòng họ, tộc NGUYỄN nhà mình thiếu chính xác, không đồng nhất gây tranh cãi, làm nhiễu thông tin cho con cháu hiểu cặn kẽ về Tổ tiên của mình.
貴公: QUÝ CÔNG đơn thuần dùng chung cho một cụ (ÔNG). Trong Gia phả bà con hay thấy ở phần mở đầu để dẫn nhập Tên huý, Tên tự, Tên thuỵ của cụ Ông đã khuất.
Ví dụ: 阮有貴公 諱鎰 諡曰勤節凉武之神
NGUYỄN HỮU QUÝ CÔNG HÚY DẬT THỤY VIẾT CẦN TIẾT LƯƠNG VŨ CHI THẦN
* Nghĩa: 𝑄𝑢𝑦́ 𝑜̂𝑛𝑔 ℎ𝑜̣ Nguyễn Hữu
- 𝑡𝑒̂𝑛 ℎ𝑢𝑦́: Dật
- 𝑡𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑢𝑦̣: Viết cần tiết Lương vũ chi thần
- tên tặng phong là Tĩnh quốc công
Nhà con Nguyễn Hữu Bảo Nam phân 12 phòng thuộc trực hệ ngài Vũ quận công, Hào lương hầu Nguyễn Hữu Hào tự Bảng, thụy Nhu từ và Nguyễn Hữu Thắng phân 4 phòng thuộc trực hệ ngài Nguyên tể Lễ quận công, Vĩnh an hầu Nguyễn Hữu Cảnh, húy Kính, tự Thành, thụy Cương trực cũng không ngoại lệ đến thời Minh mệnh Gia phả bị thất lạc, anh em ly tán, nhà đất bị cướp phá (Phả ký sau khôi phục truyền lại ghi " Binh hỏa chi dư, hiện tồn 5-6 người, ta là con cháu ngài Tĩnh quốc công chi hậu").
Xưa cuốn đầu vào thời Minh mệnh chỉ ghi được từ Hậu tổ Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật trở xuống nhờ được truyền miệng bậc cao niên trong họ, và cho biết thêm cao hơn nữa ta còn là hậu duệ của Thái sư Triều lê thời Tự đức con cháu đời sau được tập ấm vì có công phò Thế tổ và bảo vệ Quốc mẫu ở Quảng trị sau đó nhận lệnh rước bà trở lại Phú xuân. Dòng họ được Thế tổ tin dùng và ban thưởng hậu hĩnh, ngoài việc tổ tiên, đức Thế tổ chỉ dụ được tùng tự Thái miếu. Riêng đức Thánh tổ cũng ban sắc, tước vị, thụy lại, còn phần con cháu cho giữ chức đội trưởng truyền đời trông nom trấn thủ phủ thờ tổ tiên nên có điều kiện hơn, mong muốn biết rõ Thượng tổ nhà ta là ai? Công trạng ra sao?
Không hiểu cụ thể thế nào mà cả 2 Tộc đều ghi chính xác được tất cả Tổ Biện tự 薦: TIẾN ghi ra 廌: TRÃI. Do tổ TIẾN cũng bị thất truyền danh tính rơi vào tình trạng thời gian xa cách, hơn nữa các cụ xa đời.
Do đó nhà cháu phiên âm chữ Hán tự bị sai, viết vào Gia phả sai, tiếp tục không ngừng ở đó, sau cụ Nguyễn Hữu Chỉnh, ... thời Minh mệnh, Nguyễn Hữu Thịnh phụng tu cát nhật tháng 1 Năm Tự Đức thứ 12, ngài Vĩnh quốc công Nguyễn Hữu Độ phụng tu 7 tháng 1 năm Tự Đức thứ 11, Cung lục lần 1 ông là tỉnh hạt hội viên Nguyễn Hữu Toàn phụng tu Nguyễn Hữu Tộc Tôn Đồ Gia Phổ. 15/9 năm Bảo Đại thứ 16, và gần đây nhất thập niên 90 lại có bà cô Nguyễn Ngọc Hiền ( Nguyễn Ngọc Như Hiên), năm 2010 tiếp tục Nội Nguyễn Hữu Ứng ( Sinh) nhà con viết ra chữ quốc ngữ. Do cung lục và phiên âm sai nên lây truyền có hệ thống, gây sự nhầm tưởng lớn về Tên húy và Tiểu sử của tổ tiên nhà mình.
Nhiều thế hệ, thậm chí tới thế kỉ XXI nhiều bà con trong họ đã ngộ nhận tổ tiên mình là TRÃI, và nhiều Tộc khác khuyết phả không tiện nói ra vì giữ thể diện ( Không dám chấp nhận và nhìn thẳng, nói thật khách quan như chúng ta hiện nay) cũng xin khảo cứu và cũng dẫm vào vết xe đổ này, rồi lấy thông tin đó để đi chấp nối Gia phả ở các cửa họ khác. Và tất nhiên, rất nhiều chi, tộc đã nhận nhau anh em, vì đều có chung cụ tổ là TRÃI. Nhưng tới năm 2010 họ dựa vào nhiều Gia phả chính thống có thời gian xa hơn, có sắc ấn vua ban, các mộc bản và Công nghệ thông tin bùng nổ đã tiếp cận một số tài liệu và phổ tiền biên đã kịp thời chỉnh lý cho tới nay đã hoàn thiện 95% Gia phả trực hệ của mình.
Cũng là 季公: 𝗤𝘂𝘆́ 𝗖𝗼̂𝗻𝗴, nhưng nó lạ lắm vì QUÝ này chỉ người con trai Út trong gia đình. 2 thuật ngữ Quý Công cùng sử dụng trong 1 bộ Gia phả, để mọi người có cái nhìn khách quan về vấn đề này ngày xưa lối viết Gia phả và Thần vị, ...
Vi dụ: 1. 孟公: Mạnh Công
Thường viết con trai trưởng
(Cũng có dòng tộc, họ lại gọi dòng trưởng là “Bá“),
Lễ khánh thành nhân ngày giỗ tổ và gặp mặt con cháu họ Nguyễn tại nhà thờ Vọng họ Nguyễn.
Nhà thờ vọng họ Nguyễn Việt Nam - Phía nam, được xây dựng tại xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã chính thức khánh thành vào ngày 18 tháng 04 năm 2024 (tức ngày 10/03 Âm Lịch - Năm Giáp Thìn). Đây là một sự kiện đáng chú ý, thu hút sự tham dự của nhiều bà con trong dòng tộc họ Nguyễn, đến từ các chi họ tộc trên toàn quốc.
Nhà thờ vọng họ Nguyễn là một công trình kiến trúc độc đáo và ý nghĩa, mang đậm dấu ấn của họ Nguyễn Việt Nam. Dự án này do anh Nguyễn Hữu Thọ, một hậu duệ họ Nguyễn, đang sinh sống và làm việc tại Xuyên Mộc - Bà Rịa Vũng Tàu, phát tâm xây dựng. Anh có niềm đam mê với lịch sử và văn hoá Việt Nam, đặc biệt là dòng họ Nguyễn. Ông mong muốn có một nơi để thể hiện tình cảm và lòng biết ơn đối với những bậc tiền bối và tiền nhân của họ Nguyễn, cũng như để giáo dục và truyền bá cho thế hệ sau biết về gốc tích và tinh hoa văn hoá dòng họ.
Sự kiện khánh thành nhà thờ vọng họ Nguyễn cùng với việc tổ chức lễ giỗ tổ Hùng Vương đã có sự tham dự đông đảo của hơn 300 bà con trong dòng tộc. Từ chư vị trong ban trị sự dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc, đến chư vị Tộc Nguyễn ở Gia Mêu - Thanh Hoá, từ chư vị trong ban trị sự Nguyễn Phúc Tộc (Huế) đến ban trị sự chi tộc Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh - Quảng Bình. Hàng chục hậu duệ đại diện các trưởng chi trưởng tộc cũng đã về tham dự và viếng hương dâng lễ đầy đủ, tạo nên không gian linh thiêng và tôn vinh di sản văn hoá của dòng họ.
Cuối cùng, chúng tôi xin gửi lời tri ân đến tất cả quý bà con trong dòng tộc họ Nguyễn, từ chư vị trong ban trị sự dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc, đến chư vị Tộc Nguyễn ở Gia Mêu - Thanh Hoá, từ chư vị trong ban trị sự Nguyễn Phúc Tộc (Huế) đến ban trị sự chi tộc Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh - Quảng Bình, và hàng chục hậu duệ đại diện các trưởng chi trưởng tộc. Quý vị đã làm cho ngày hôm nay trở thành một kỷ niệm đáng nhớ và đậm đà tình thân hữu này. Trong quá trình diễn ra buổi lễ còn nhiều thiếu sót và sơ xuất chưa chu toàn, rất mong quý bà con hoan hỉ lượng thứ bỏ qua.
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý vị luôn hạnh phúc, bình an và gắn kết trong tình thân hữu của dòng họ Nguyễn chúng ta.
Trân trọng, Ban Quản lý, Kiến thiết và Xây dựng Nhà thờ vọng họ Nguyễn Việt Nam - Phía Nam.
- Từ 8h00– 14h30 : Lễ rước kiệu từ khu Lăng Mộ về Khởi Nguyên Đường
Lễ tế cáo yết
- Từ 14h30 – 15h30 :
- Từ 15h30 – 17h30 : Đón các đoàn và Bà con vào dâng hương
- Từ 19h00 – 22h00 : Chương trình hát chầu Phụng Tổ
Ngày 15 tháng 10 năm Quý Mão:
( Tức ngày 27 tháng 11 năm 2023)
- Từ 07h00 – 08h00 : Lễ tế chính kỵ
- Từ 08h00 – 08h30 : Diễn văn khai mạc
* Giới thiệu đại biểu và các đoàn vào dâng hương:
- Tổng kết hoạt động của năm 2023 và phương hướng
hoạt động năm 2024.
- Đại biểu bà con phát biểu ý kiến.
- Trong thời gian trên đại biểu và bà con vào dâng hương.
-Từ 12h00: Kính mời các Quý khách và bà con thân Tộc thụ lộc.
HỘI ĐỒNG DÒNG TỘC NGUYỄN BẬC TOÀN QUỐC & BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LSVH QUỐC GIA " NHÀ THỜ VÀ MỘ NGÀI NGUYỄN BẶC "
Trân trọng kính mời toàn thể bà con thân tộc trong và ngoài nước
VỀ DỰ LỄ GIỖ ĐỨC THÁI THỦY TỔ - THÁI TỂ ĐỊNH QUỐC CÔNG NGUYỄN BẶC
( LẦN THỨ 1044)
Thời gian :
Từ 8h00 ngày 14 tháng 10 năm Quý Mão
(Tức ngày 26 tháng 11 năm 2023)
đến 12h00 ngày 15 tháng 10 năm Quý Mão
(Tức ngày 27 tháng 11 năm 2023)
Địa điểm :
Tại Khởi Nguyên Đường
Thôn Vĩnh Ninh, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Kính mong các Quý khách cùng toàn thể bà con thân Tộc về dự đông đủ để tỏ lòng tri ân Đức Thái Thủy Tổ - là dịp hậu duệ của Ngài trong cả nước và ở hải ngoại về gặp mặt, giao lưu.
Kính thưa bà con thân Tộc, trên cả nước, và bà con Việt kiều ở hải ngoại.
Hôm nay ngày 12/01/2022 (10/12 Tân Sửu).
Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc - toàn quốc và Ban Quản lý di tích lịch sử văn hoá quốc gia “Nhà Thờ và Mộ Ngài Nguyễn Bặc” tại thôn Vĩnh Ninh, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tiến hành đặt bia ghi thân thế và sự nghiệp của Đức Thái Thuỷ Tổ - Thái Tể Định Quốc Công Nguyễn Bặc do tiến sỹ sử học Đinh Công Vĩ phụng soạn, và đặt bàn dâng lễ đặt tại lăng mộ ngài đức Thái Thuỷ Tổ - Thái Tee Định Quốc Công Nguyễn Bặc do gia đình ông Nguyễn Đình Hà - Hải Phòng cúng tiến và đặt 2 cột đèn đá được phía trước nhà thờ “ Khởi Nguyên Đường” bằng đá xanh tự nhiên được gia công chế tác tại làng nghề đá Ninh Vân, Hoa Lư, Ninh Bình do gia đình ông Nguyễn Văn Thơi trưởng chi sở tại cúng tiến.
Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc - toàn quốc và Ban quản lý di tích, xin được gửi đến toàn thể bà con thân tộc trên cả nước, và bà con Việt kiều ở hải ngoại, một số hình ảnh của buổi lắp đặt bia, bàn dâng lễ, và đôi đèn đá, toàn thể bà con thân Tộc chúng ta cùng hoan hỉ.
Dòng họ Nguyễn Đình chúng ta thờ ngài Nguyễn Hợp, ông nội Đức tổ Nguyễn Xí làm Thủy tổ. Gia phổ dòng họ cho biết cụ là một nhà sư bán thế xuất gia, vừa tu hành như một nhà sư, bụt hiệu là Pháp Đăng, vừa lập gia đình, có vợ con và làm nghề nấu muối ở làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh (xem sách Cương quốc công Nguyễn Xí, in năm 2013, trang 15).
Tôi đã có dịp trò chuyện cùng cụ Nguyễn Đình Triển, năm nay đã 94 tuổi, nguyên Trưởng ban lịch sử - tộc phả họ Nguyễn Đình. Có thể nói cụ là người am hiểu nhất về lịch sử Dòng họ. Với câu hỏi: “Cụ có hiểu biết gì thêm về vị Thủy tổ Nguyễn Hợp, như gốc gác, hành trạng hay không”, Cụ Triển trả lời, chỉ biết cụ Thủy tổ là người làng Cương Gián, có 2 con trai, làm nghề nấu muối, con cả là cụ Nguyễn Khai sống tại làng này, người con thứ Nguyễn Hội di cư sang Thượng Xá. Ngoài ra, cụ Triển không biết gì hơn.
Trong sách “Nguyễn tộc gia phổ ký” của tác giả Nguyễn Đình Ưu, có câu mở đầu (sách đã dẫn, trang 63):
“Lạch Lò, rú Cấm, đất chứa khí thiêng,
Rú Kiếm, rú Cờ, cảnh phô vẽ đẹp.
Đất anh linh, sinh người hào kiệt,
Xem Nam thiên, mới biết tông đồ”...
Nhưng ai mới là người "Xem Nam thiên, chọn đất anh linh để sinh người hào kiệt", vẽ nên Tông đồ nghìn năm cho Dòng họ Nguyễn?
Ở đây tôi xin hầu chuyện các ông, các bác, các anh chị trong dòng họ Nguyễn Đình một số suy luận, nhận định về Thủy tổ Nguyễn Hợp qua các sử liệu từ Gia phổ dòng họ cũng như sử sách cũ. Hy vọng, trong thời đại thông tin rộng rãi hiện nay, sẽ có nhiều phát hiện mới, giúp con cháu chúng ta biết rõ hơn về dòng dõi tổ tiên mình.
Tôi đã đến làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân và có suy nghĩ rằng cụ Nguyễn Hợp không phải là người gốc ở đây. Làng Cương Gián hiện nay nằm trên 1 vùng cát trắng hẹp, trải dài theo bờ biển, trước mặt là biển Đông bao la, sau lưng là dãy núi Ngàn Hống cao sừng sững, xuyên qua làng là 1 con đường nhỏ ven biển, gọi là đường quốc phòng. Ngày nay, Làng này còn heo hút như thế thì thời Hậu Trần, thời điểm mà ngài Nguyễn Hợp sinh sống ở đây. Cương Gián hẳn là làng “khỉ ho, cò gáy, hổ gầm, vượn hú” theo nghĩa đen, chắc cả làng chỉ có vài người sinh sống. Làng này chỉ phù hợp với những người cố tình đi ở ẩn, lẩn trốn sự truy tìm của quan binh triều đình.
Lập luận này là hợp lý vì chúng ta biết sau đó, khi tình hình loạn lạc nhà hậu Trần tạm yên (Hồ Quý Ly giết hại, truy tìm các công thần nhà Trần như Nguyễn Đa Phương, Trần Khát Chân, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân)... Cụ Nguyễn Hợp đã cưới vợ cho người con thứ 2 của Cụ, tức khải tổ Nguyễn Hội, lấy bà Vũ Thị Hạch, người làng Dũng Quyết (Phường Trung Đô, thành phố Vinh ngày nay) và đưa vợ chồng con trai, 2 cháu nội ra sống tại vùng Thượng Xá, dưới chân dãy núi Cấm Sơn, bên hữu ngạn sông Cấm. Mảnh đất mà theo con mắt của các thầy địa lý khi xưa, là đất bình an, nhiều sinh khí (vì có dãy núi cấm hùng vĩ che chắn, bảo vệ ở mạn Bắc, lại có hạ lưu sông Cấm và biển Đông bao bọc mạn Đông Bắc và Đông, sông Lam ôm trọn mạn Nam và Tây Nam, hội tụ sinh khí).
Việc cụ Nguyễn Hợp chọn con dâu là bà Vũ Thị Hạch (ngày xưa lấy vợ là do cha mẹ chọn), người làng Dũng Quyết cũng là điều đặc biệt. Khi mà 300 năm sau đó, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã cố vấn cho vua Quang Trung rằng, "Dũng Quyết là đất thiêng, là đất đế đô, đầy đủ tứ linh hội tụ" (tứ linh là long, ly, quy, phượng).
Theo quan niệm người xưa, “Đức hiền tại mẫu”, rõ ràng cụ bà Vũ Thị Hạch, người mẹ của hai người con trai anh hùng (Nguyễn Biện và Nguyễn Xí), không thể là người thường được.
Xin nói thêm về cụ Nguyễn Thiếp, người Hà Tĩnh, sống vào thế kỷ 17, cùng thời vua Quang Trung, là tác giả bộ gia phổ dòng họ Nguyễn Khai tại làng Cương Gián. Lần đầu tiên vân du đến Nam Đàn, Nghệ An, cụ Nguyễn Thiếp đã có thơ đề tựa cho làng Kim Liên:
"Chung sơn tam đỉnh, hình vương tự,
Kế thế anh hùng dĩ tử tôn!"
Nghĩa là:
Núi Chung sơn có 3 đình như hình chữ vương,
Con cháu nơi đây đời đời kế thế nhau làm anh hùng!
Hơn hai trăm nay sau khi Nguyễn Thiếp viết câu thơ trên, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, rồi Nguyễn Ái Quốc mới kế tiếp ra đời ở vùng đất quanh núi Chung.
Lại nói về cụ Nguyễn Hợp, là một người làm nghề nấu muối và bán muối. Nhưng từ rất sớm, Cụ đã biết và kết thân với hào trưởng Lê Khoáng ngoài tận núi rừng Thanh Hóa. Nên năm 1406, khi cụ Nguyễn Hội bị hổ vồ mất, rồi cụ bà Vũ Thị Hạch cũng vì đau buồn mà qua đời. Cụ Nguyễn Hợp khi đó đang sinh sống tại Cương Gián cùng người con trai cả, đã ra Thượng Xá và đưa hai người cháu nội là Nguyễn Biện (13 tuổi) Nguyễn Xí (9 tuổi) ra đất Lam Sơn, Thanh Hóa gửi gắm cụ Lê Khoáng.
Sử sách cũ ghi cha con cụ Nguyễn Hội và Nguyễn Biện thường gánh muối ra bán ở vùng Lam Sơn (sđd, trang 16). Nhưng chuyện này rất khó tin, trừ khi đi bán muối là vỏ bọc để hoạt động cứu nước. Chẳng có ai gánh muối đi đường rừng hơn 200km, từ Cửa Lò ra tận Lam Sơn đi bán, lại đưa thêm con nhỏ chưa đầy 13 và 9 tuổi đi cùng (xin nhớ thời đó, người ta đi đường rừng dọc theo các khe núi, gọi là đường thượng đạo, dọc đường còn có hổ báo nữa), trong khi biển Thanh Hóa cũng đầy muối.
Những tính toán và việc làm đầy dứt khoát đó của cụ Nguyễn Hợp cho thấy cụ đã dự đoán trước được vận mệnh Đất nước, cũng như dự đoán được tiền đồ của gia tộc hào trưởng Lê Khoáng (là cha đẻ vua Lê Lợi sau này).
Có như vậy, Cụ mới lặn lội mấy trăm cây số đường rừng, mang 2 cháu nội còn nhỏ tuổi mà cụ tin tưởng là bảo vật truyền gia, ra để gửi gắm một người bạn sống trên núi rừng heo hút xứ Lam Sơn!
Điều này cũng cho thấy mức độ thân thiết và tin tưởng lẫn nhau giữa cụ Lê Khoáng và cụ Nguyễn Hợp. Bạn nghĩ mà xem, nếu không hiểu biết, tin tưởng nhau, sao vị hào trưởng Lê Khoáng, tức là 1 vị quan, lại dễ dàng nhận nuôi hai đứa trẻ con, cháu một người làm muối nào đó ở trong xứ Cương Gián heo hút nào đó.
Xin nhắc lại là cụ Hợp đưa 2 cháu ra Lam Sơn năm 1406, lúc đó Lê Lợi mới là 1 thanh niên 21 tuổi và Hội thề Lũng Nhai diễn ra năm 1418, tức 12 năm sau đó.
Thời Lý Trần, do ảnh hưởng của Tam giáo (Phật, Lão, Nho), những bậc cao nhân Đại Việt như Trần Nguyên Đán, Chu Văn An…luôn có quan niệm “tiến vi quan, thoái vi sư”, hay “Thượng y y quốc, trung y y nhân”, nghĩa là: “Gặp thời ra làm quan giúp dân, thất thế rút lui về ở ân làm Thầy” hay “Gặp thời thì làm thượng y chữa bệnh cho Nước, lỡ thời về làm lương y chữa bệnh cho dân”. Một khi đã quyết định rút lui về ở ẩn, các vị sẽ chọn phương châm sống tu nhân tích đức và tìm đất lành cho con cháu mai hậu, theo phương châm sống “Tiên tích Đức, hậu tầm Long”.
Theo dã sử, mộ của cụ khải tổ Nguyễn Hội là mộ hổ táng, tức là ông hổ được Cụ nuôi, sau khi vồ nhầm chết chủ mình, đã mang xác chủ ra chôn tại cát địa Đồng Lầm. Nhờ ngôi mộ linh thiêng của Cụ, mà người con là cụ Nguyễn Xí làm quan đến chức Tể tướng.
Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, huyệt mộ cát địa đó không do ai khác ngoài cụ Nguyễn Hợp đặt. Vì chính Cụ đã chọn đất Thượng Xá, đưa con trai từ Cương Gián, cách 40km đường ven biển, vưọt qua hạ lưu sông Lam mênh mông, ra Nghi Hợp để định cư, lập chùa Kim Tự cho dân làng Thượng Xá tu hành, thì không có lý do gì để Cụ lại không chọn huyệt mộ cát địa cho con trai và con dâu của mình!
Sau này, Đại thi hào Nguyễn Du, một hậu duệ của Cụ, đã viết:
“Cho hay Phúc họa đạo trời,
Cội nguồn cũng bởi lòng người mà ra.
Có trời mà cũng có ta,
Tu là cội phúc, tình là dây oan”…
Truyện Kiều - Nguyễn Du
Các phân tích dựa trên các sử liệu ít ỏi còn lại về Thủy tổ Nguyễn Hợp ở trên đủ chứng tỏ cụ Nguyễn Hợp là 1 cao nhân ẩn sỹ, là 1 nhà tiên tri chiến lược tầm cỡ Quốc gia, là người sắp đặt tiền đồ cho Đức tổ Nguyễn Xí, cũng như sắp đặt tiền đồ nghìn năm cho DÒNG HỌ NGUYỄN ĐÌNH chúng ta.
Cương Quốc công Nguyễn Xí, có đền thờ tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang xưa, nay là xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Cụ Nguyễn Xí (1397 – 1465) được suy tôn là Đức tổ của Dòng họ Nguyễn Đình, là một danh tướng của Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 -1428), làm quan trải 4 triều vua nhà Hậu Lê, đến chức Hữu tướng quốc, tức Tể tướng.
Đức tổ Nguyễn Xí có 16 con trai. Trong đó 1 người mất sơm, còn 15 người con đầu hình thành 15 Đại chi của Dòng họ Nguyễn Đình:
1. Con trưởng là Nguyễn Đình Khôi, còn gọi là Nguyễn Sư Hồi, làm quan đến chức Nhập nội Thái úy tham dự triều chính, phò mã đô úy, là Nhị thế tổ Đại chi 1.
2. Con thứ hai là Nguyễn Bá Sương, làm quan chức Phò mã đô úy, Nghiêm võ vệ tổng quản, tổng binh Thuận Hóa đạo, là Nhị thế tổ Đại chi 2.
3. Con thứ ba là Nguyễn Huyền, làm quan chức đô tổng binh sứ Hóa, là Nhị thế tổ Đại chi 3.
4. Con thứ tư là Nguyễn Bá Kiệt, làm quan chức Phấn võ vệ tam phụ quốc quân đồng tri, là Nhị thế tổ Đại chi 4.
5. Con thứ năm là Nguyễn Kế Sài, làm quan chức Đô tổng binh sứ Thuận hóa, là Nhị thế tổ Đại chi 5.
6. Con thứ sáu là Nguyễn Phùng Thời, làm quan chức Đô tổng binh sứ Thanh hoa đạo, là Nhị thế tổ Đại chi 6.
7. Con thứ bảy là Nguyễn Thúc Ngu, làm quan chức Nhất cuộc chính giám, đô tổng binh sứ, là Nhị thế tổ Đại chi 7.
8. Con thứ tám là Nguyễn Tôn Cao, làm quan chức Nhất cuộc chính giám, đô tổng binh sứ Lạng Sơn, là Nhị thế tổ Đại chi 8.
9. Con thứ chín là Nguyễn Cảnh Thanh, làm quan chức Tuyên quốc vệ đô tổng binh sứ, là Nhị thế tổ Đại chi 9.
10. Con thứ mười là Nguyễn Trọng Đạt, làm quan chức Đạt tín đại phu, Linh quận công, là Nhị thế tổ Đại chi 10.
11. Con thứ mười một là Nguyễn Phúc Xà, làm quan chức Nhất cuộc chính giám, đạt tín đại phu, là Nhị thế tổ Đại chi 10.
12. Con thứ mười hai là Nguyễn Hữu Lượng, làm quan chức Huân đạt vệ quản lệnh, là Nhị thế tổ Đại chi 12.
13. Con thứ mười ba là Nguyễn Đồng Dần, làm quan chức Ngọc linh vệ quản lệnh, là Nhị thế tổ Đại chi 10.
14. Con thứ mười bốn là Nguyễn Nhân Thực, làm quan chức Nghiêm dũng vệ tiền sở quản lệnh, là Nhị thế tổ Đại chi 10.
15. Con thứ mười lăm là Nguyễn Văn Chinh, làm quan Thanh Hoa đạo đô tổng binh sứ, là Nhị thế tổ Đại chi 10.
16. Con thứ mười sáu: tên Duy Tân, mất lúc 1 tuổi.
Tám người con gái là:
1. Ngọc Hỷ
2. Ngọc Lệ, lấy Thái tử con vua.
3. Ngọc Minh
4. Ngọc Thái
5. Ngọc Biện
6. Ngọc Liên
7. Ngọc Kính (Ngọc Quỳnh)
8. Ngọc Bình.
Tất cả con trai, gái đều thuộc công thần quý tộc, hình thành dòng họ Nguyễn Cương Quốc công, danh giá bậc nhất lịch sử Việt Nam trung đại.
PHONG THỦY MỘ TỔ HỌ NGUYỄN ĐÌNH
1. Thuật phong thủy
Triết học phương Đông cho rằng sinh mệnh con người nằm ở “sinh khí” của người đó. Chính sinh khí quyết định phúc họa, thọ yểu, mạnh yếu của đời người. Sinh khí là gốc của sinh mệnh con người.
Sinh khí mỗi người do hai thành tố hợp thành, là “khí Tiên thiên” và “khí Hậu thiên”.
“Khí tiên thiên” nói gần là do bố mẹ, xa hơn nữa là do tổ tiên dòng dõi truyền cho. Ngày nay ta có thể hiểu đó là gen di truyền. Cái này quan trọng. Các cụ bảo "lấy vợ xem Tông, lấy chồng xem Tổ" là thế.
Khí hậu thiên là từ ăn uống, rèn luyện của bản thân mà có.
Trong lòng đất vốn có sẵn sinh khí. Tùy hình thể sông núi mà sinh khí này mạnh yếu khác nhau. Các “Long mạch” lớn là đường đi của luồng sinh khí mạnh trong lòng đất. Nơi sinh khí mạnh nhất gọi là huyệt kết.
Thuật “Phong Thủy” cho rằng, nếu đặt mộ ông bà, tiên tổ vào đúng huyệt kết, thì anh linh tiên tổ sẽ hấp thu được luồng sinh khí đất trời, cảm ứng và tác phúc cho con cháu của mình.
Phong thủy mộ Tổ mỗi dòng họ có ý nghĩa tâm linh quan trọng nhất của dòng họ đó, ảnh hưởng lớn đến sự Hưng vượng hay sa sút, phúc đức hay tai họa của cả dòng tộc.
Phong thủy Loan Đầu lấy hình thế, bố cục sông núi làm chính, nhận biết nơi khởi đầu và kết thúc, kết huyệt của sơn mạch, thủy lưu; Tìm kiếm phát hiện huyệt kết, nơi có “Tiền Chu tước, hậu Huyền vũ, tả Thanh long, hữu Bạch hổ, triều án sơn” chầu về, để định huyệt vị, tọa hướng.
Một số loài vật, như hổ, voi, ong, rắn… không cần học phong thủy để chọn huyệt kết như con người. Chúng được thiên phú “giác quan thứ 6”, có linh tính cao để biết vùng đất nào vượng khí. Đó là nghĩa thật câu nói "Đất lành chim đậu".
2. Phong Thủy tại Việt Nam
“Phong Thủy” chỉ được gọi là 1 thuật, phát xuất từ triết lý của Đạo Lão, nhưng lại được các triều đại vua chúa rất chú trọng. Tại Việt nam, lý thuyết phong thủy đã được áp dụng từ thời các vua Hùng. Việc chọn kinh đô nước Việt tại núi “Nghĩa Lĩnh” thời Hùng Vương là do yếu tố phong thủy (nay là Đền hùng ở Phú Thọ). Sau này, việc chọn kinh đô tại Thăng Long, Huế, Phượng Hoàng Trung đô… đều là do yếu tố phong thủy.
Ngay thời đại ngày nay, chúng ta vẫn biết đến những địa danh nổi tiếng liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh: Mộ thân mẫu Hoàng Thị Loan, Lăng Bác, Đền thờ Bác Hồ ở Đá Chông, Ba vì. Đó đều là những nơi có phong thủy tuyệt đẹp. Như vậy, chính Bác Hồ cũng tin và rất giỏi về thuật phong thủy.
3. Phong Thủy vùng Thượng Xá
Vùng đất Thượng Xá nằm ở hạ lưu hai dòng sông, sông Lam ở phía Nam và sông Xá ở phía Bắc, dãy núi Cấm ở phía Tây Bắc. Ở phía Đông có các núi Kiếm, núi Voi, núi Cồn Thông, biển Đông. Sông núi như vậy hội tụ sinh khí cho vùng Thượng Xá. Đó cũng là lý do cụ Nguyễn Hợp đưa con cháu mình đến đây sinh sống.
Tại Thượng Xá, tên gọi các ngọn núi nơi đây đều gắn liền với Cương Quốc công Nguyễn Xí: Kỳ sơn (núi cờ), Mão sơn (núi mũ), Tượng sơn (núi voi), Cổ sơn (núi trống trận), Kiếm sơn (núi kiếm)…là chỉ vật dụng của 1 võ tướng.
Trong sách “Nghệ An phong thổ ký”, Tiến sỹ Bùi Dương Lịch đã viết về phong thổ vùng Cửa Xá như sau:
“Cương Quốc hùng tâm, sơn hữu kiếm”…
Nghĩa là:
Vì hùng tâm của ngài Cương Quốc công mà ngọn núi nơi đây có hình lưỡi kiếm.
4. Phong Thủy mộ Khải tổ Nguyễn Hội
Cụ Khải tổ Nguyễn Hội mất ngày 20 tháng 3 năm 1405 tại Thượng Xá. Thi hài cụ được ông hổ do chính cụ Hội nuôi cõng đi an táng tại xứ “Đồng Lầm”. Mộ cụ là ngôi mộ hổ táng nổi tiếng ngày xưa ở Việt Nam.
Vì là mộ hổ táng, nên chúng ta không biết được hướng của ngôi mộ. Nhưng từ lý thuyết phong thủy, địa thế vùng Thượng Xá và sự nghiệp của hai người con trai cụ Nguyễn Hội, ta có thể suy ngược lại, mộ cụ Hội quay về hướng Bắc, tức là nhìn ra sông Xá (quay về hướng Bắc mới có án sơn, cụ Nguyễn Xí mới phát ngôi Tể tướng được).
Đặc điểm phong thủy của mộ hướng Bắc như sau:
- Hậu án: Là vùng đất chạy dọc theo bờ biển, xa hơn nữa là sông Lam và núi Ngàn Hống.
- Minh đường: Là hạ lưu sông Xá, nhiều Án sơn và Triều sơn phía trước mặt, phát công hầu khanh tướng nhiều đời.
- Thanh Long: Là núi Cấm sơn chiếu thẳng (nên không tốt cho con trai trưởng).
- Bạch hổ (tay phải) là núi Tượng sơn, Kiếm sơn, biển Đông nên con trai thứ phát về võ nghiệp.
Điểm đặc biệt của thế đất này là minh đường rực rỡ, án sơn, triều sơn đẹp, kết phát tam công. Nhưng hậu án không sung mãn, nên không phát vương và phát ngắn.
5. Phong Thủy mộ Đức tổ Nguyễn Xí.
Đức tổ Nguyễn Xí mất ngày 30 tháng 10 năm 1465, khi đương giữ chức “Thái úy, Cương Quốc công, Hữu tướng quốc”. Thi hài được quàn tại Thăng Long 1 năm, rồi mới rước về quê nhà an táng. Trong thời gian đó, vua Lê sai các quan ở Bộ công tính toán việc đặt phần mộ cho ngài tại Thượng Xá, bên cạnh ngôi mộ hổ táng của cụ Nguyễn Hội.
Phần mộ và Đền thờ Đức tổ Nguyễn Xí được “Quốc táng, quốc tạo, quốc tế”, tức triều đình chủ trì việc chọn đất, chọn hướng, chọn giờ và cử hành lễ an táng, lễ xây dựng.
Thời vua Lê Thánh Tông, việc xem xét địa thế, long mạch, phong thủy được giao cho các quan ở Bộ công (tương đương Bộ xây dựng ngày nay). Ngôi mộ Đức tổ ta được các quan phong thủy thời đó đặt theo hướng chính Đông.
Cùng một vùng đất, có huyệt chính, huyệt bàng, nhưng vì hướng của hai ngôi mộ khác nhau, mà đặc điểm kết phát cũng khác nhau.
Đặc điểm phong thủy của mộ hướng Đông như sau:
- Hậu án: Là núi Cấm sơn hùng vĩ. Long mạch chủ dãy núi này kéo dài từ huyện Đô Lương xuống tận Thượng Xá, nên con cháu sẽ phát lâu dài, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm sau.
- Thanh Long: Là hạ lưu sông Xá, các dãy núi Tượng sơn và Kiếm sơn, phát công hầu khanh tướng nhiều đời. Phát chủ yếu cho nam giới và phát ưu thế ở các ngành trưởng.
- Bạch hổ (tay phải) Là núi Hang Tiết (phía chùa Phật tích, xã Nghi Khánh), xa hơn là vùng đất chạy dọc theo bờ biển, xa hơn nữa là sông Lam. Do núi Bạch hổ nhỏ, sông Lam quá xa, không vượng khí, nên ngành nữ và thứ nam không mạnh.
- Minh đường: nội minh đường không có sông, ngoại minh đường là biển Đông. Theo hướng này, không có án sơn và triều sơn.
Điểm đặc biệt của thế đất theo hướng Đông là hậu án trường kỳ nên phát triển lâu dài. Thanh Long vượt trội nên phát về nam giới. Nhưng không có án sơn và triều sơn nên không phát cao như mộ hướng Bắc.
DÒNG HỌ NGUYỄN ĐÌNH chúng ta được hưởng phúc tổ tiên từ cả 2 ngôi mộ tổ, luân phiên kết phát theo các trung vận, đại vận. Đây là thế đất "Tam công" đẹp nhất khu vực Bắc trung bộ.
Một số Đại chi trong dòng họ có mộ các cụ Thế tổ: Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Bá Sương, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực cũng được đặt ở huyệt cát địa, nên đại chi đó phát quan tước hơn. Đặc biệt ngôi mộ cụ Nguyễn Kế Sài của Đại chi 5 rất đẹp.
Một số truyền thuyết (xem “Nam Hải dị nhân liệt truyện” của Phan Kế Bính) cho rằng chính vua Lê Thánh Tông sau này, vì sợ Long Mạch mộ tổ DÒNG HỌ NGUYỄN ĐÌNH quá vượng, át họ nhà vua, nên sai Bộ công đào sông Cấm giang, để cắt bớt long mạch đi.
Chúng ta không biết truyền thuyết này chính xác đến đâu. Nhưng sự việc năm 2005, Đoàn công tác của Viện sử học Việt Nam do Phó giáo sư Trần Lâm Biền làm trưởng đoàn, kết hợp với Sở văn hóa Nghệ An, khảo sát thực địa đoạn kênh nhà Lê gần cầu Cấm, đã vớt được các vật thể trấn yểm phong thủy bằng đồng dưới lòng kênh, mang về Hà Nội nghiên cứu, là một bằng chứng cho thấy việc vua Lê trấn yểm là thật.
Kính đề nghị Hội đồng gia tộc Đại tôn Dòng họ Nguyễn Đình, cử đại diện làm việc với Phó giáo sư Trần Lâm Biền (Viện sử học) và Sở văn hóa Nghệ An để tìm hiểu sự kiện trên, đồng thời tìm cách hóa giải trấn yểm, để Dòng họ chúng ta phát triển lâu dài và mạnh mẽ hơn nữa.
#Gia Phả Tiếng Việt
Nguyễn Đình Toại - Phòng Cương Quốc Công
Tộc Họ Nguyễn Đình #Cung Lục Gia Phả Nguyễn Hữu Bảo Nam - Phòng Tĩnh Quốc Công Tộc Nguyễn Hữu - Gia Viễn
Để đảm bảo cho công tác chuẩn bị khai mạc Chương Trình làm Lễ hoàn thành trùng từ, tôn tạo quần thể di tích lịch sử quốc gia Nhà Thờ & Mộ ngài Nguyễn Bặc - giải đoạn 1.
Viện Sĩ - Thượng Tướng Nguyễn Huy Hiệu - Chủ Tịch Danh Dự Hội Đồng Dòng Tộc Nguyễn Bặc Toàn Quốc - Nguyên Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng.
Ông Nguyễn Văn Sở - Chủ Tịch HDDT Nguyễn Bặc - Toàn Quốc
Ông Nguyễn Quốc Rỹ - Trưởng BQL
Ông Nguyễn Văn Cư - Phó BQL DTLSQG Nhà Thờ & Mộ Nguyễn Bặc cùng các Phó chủ Tịch, Uỷ Viên, Thành Viên HDDT Nguyễn Bặc Toàn Quốc và toàn thể bà con làm lễ dâng hương cùng toàn thể bà con và cáo yết Đức Thái Thủy Tổ - Thái Tể Định Quốc Công Nguyễn Bặc, xin phép được khai mạc ngày hôm nay.
Ngay từ chiều hôm qua 12/10 (Âm lịch) tức ngày 08 tháng 11 năm 2019 đã có phái đoàn:
1. Thượng Tướng Bế Xuân Trường - Uỷ Viên Trung Ương Đảng - Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng
2. Trung Tướng Nguyễn Văn Sơn - Tư Lệnh Cảnh Sát Biển Việt Nam.
3. Đoàn UBND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã dâng hương tại Khởi Nguyên Đường xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Chúc tất cả bà quý bà con cùng quý vị & các bạn mạnh khoẻ, vui vẻ và hạnh phúc. Chúng tôi sẽ cập nhật thông tin và film và hình ảnh liên tục để các quý vị và các bạn đọc theo dõi Chương Trình " ngày 13/10 (âm lịch) Tổ chức Lễ hoàn thành trùng từ, tôn tạo quần thể di tích lịch sử quốc gia Nhà Thờ & Mộ ngài Nguyễn Bặc - giải đoạn 1, và tổ chức lễ giỗ Đức Thái Thủy Tổ - Thái Tể Định Quốc Công Nguyễn Bặc" 2 ngày 14 & 15/10 (âm lịch).
#Post: Nguyễn Hữu Bảo Nam
#Photograp: Nguyễn Văn Cư
# Lời: Minh Nguyệt
#Tác giả bài hát HNNNVN: Võ Thế Trụ
#Nhạc: Ban Quân Nhạc Quân Đoàn 4 - BQP
Trong suốt chặng đường xây dựng Cổng Thông Tin Điện Tử. T/M Các Ban thuộc HĐDT NGUYỄN BẶC TQ. Xin cảm ơn các Quý vị là Nội Tộc Tông Thân trong và ngoài nước nói chung đã luôn mạnh dạn cống hiến rất nhiều những đóng góp vật chất, xây dựng ý kiến nhằm: Tôn Vinh Dòng Họ Nguyễn Đại Tông, Chắp Nối Gia Phổ, Trùng Tu Lăng Mộ và Từ Đường..., để cùng nhau tề tựu tại Nhà Thờ Đức Thái Thủy Tổ Định Quốc Công Nguyễn Bặc "Khởi Nguyên Đường" những ngày 14 - 15 tháng 10 Âm Lịch hàng năm để trị ân với Tổ Tiên.
Một lầnnữa T/M Các Ban thuộc HĐDT NGUYỄN BẶC TQ xin gửi tất cả những lời chào và chúc tốt đẹp nhất đến các thành viên hiện nay đang sống và làm việc tại: Việt nam, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Úc, Canada, Latvia, Balan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Brazin, Trung Quốc, Hungari, Rumani, Ý, Na uy, Lào, Thụy Sỹ, Thái Lan, Singapore, cambodia,...vv, đã ghé thăm và có những ý kiến đóng góp rất thiết thực trên trang thông tin điện tử "Khoinguyenduong, thongtintocnguyen, honguyenvietnam, nguyenhuutocpha, khoinghiaduong, phahe" trong suốt thời gian qua. Mong các quý vị, các quý thàn viên trong Họ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ và đóng góp. Xin chân thành cảm ơn!
- Mọi ý kiến đóng góp nhằm xây dựng việc chắp nối Gia Phổ Dòng Tộc Định Quốc Công Nguyễn Bặc xin liên hệ trực tiếp cácThành Viên Thường Trực Hội Đồng Dòng Tộc Nguyễn Bặc TQ - Ban Nghiên Cứu và Thực Hành Gia Phổ: